Hiển thị các bài đăng có nhãn Khoa học Thực chứng. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Khoa học Thực chứng. Hiển thị tất cả bài đăng
Lợi ích của lo âu

ERIC W. DOLAN
  July 8, 2017
Đối với một số người, môi trường áp lực cao có thể đem đến nhiều thuận lợi hơn là trở ngại. Theo một nghiên cứu mới công bố trên Journal of Individual Differences , một số cá nhân gặp lo âu có thể sử dụng trải nghiệm đó như động lực thúc đẩy bản thân.
Các nghiên cứu trước đây phát hiện lo âu có thể gây hại cho trí nhớ và khả năng chú ý. Tuy nhiên, nghiên cứu mới cho thấy cách chúng ta trải nghiệm và đáp ứng với lo âu còn ảnh hưởng đến kết quả học tập và công việc.
 “Tôi có ấn tượng rằng nhiều nghiên cứu tổng quan trong tâm lý chỉ tập trung vào việc điều chỉnh cảm xúc theo hướng tích cực (hedonic emotion regulation), hay nói cách khác, tập trung vào khi con người nỗ lực để được hạnh phúc,” Juliane Strack, đồng tác giả nghiên cứu cho biết. “Tuy nhiên, tôi quan sát thấy nhiều trường hợp con người lại có vẻ thăng tiến nhờ vào stress – trạng thái dễ gợi lên những cảm xúc tiêu cực như lo lắng, giận dữ. Điều này khiến tôi tìm hiểu khái niệm về việc điều chỉnh cảm xúc theo hướng phương tiện (instrumental emotion regulation) (khi chúng ta cố gắng duy trì hoặc cố gắng có được những cảm xúc giúp chúng ta đạt được mục tiêu; những cảm xúc này có thể mang tính tiêu cực, như lo âu trong các tình huống nguy hiểm) cũng như về “stress có lợi” (stress tích cực).
Nghiên cứu gồm 3 phần tiến hành khảo sát xu hướng sử dụng lo âu để tạo động lực cá nhân trên 194 người Đức, 159 sinh viên đại học tại Ba Lan và 270 nhà báo Đức. Những người có mức điểm cao hơn trong thang đo động lực lo âu (anxiety motivation) có khuynh hướng đồng ý với các phát biểu như “cảm giác lo lắng về deadline giúp tôi hoàn thành công việc đúng thời hạn” và “lo lắng về các mục tiêu giúp tôi tập trung vào chúng”.
Các nhà nghiên cứu nhận thấy các sinh viên có lo âu với mức động lực lo âu cao thường có điểm số cao hơn những sinh viên lo âu nhưng có mức động lực lo âu thấp. Tương tự, các nhà báo hay lo lắng có mức điểm cao sẽ thường cho thấy mức hài lòng trong công việc cao hơn nhóm có mức điểm thấp. Điều này đặc biệt đúng với những cá nhân hiểu rõ cảm xúc của bản thân.
Nói cách khác, mối liên kết điển hình giữa lo âu và các kết quả tiêu cực dường như bị phá vỡ nơi những cá nhân có mức động lực lo âu cao. “Sử dụng lo lắng như nguồn động lực có vẻ giúp bù đắp lại các hệ quả tiêu cực của chính lo âu,” Strack và cộng sự viết trong nghiên cứu. 
“Tôi hy vọng rằng con người có thể hiểu được mặt tích cực của các cảm xúc tiêu cực, đặc biệt là  lo âu, cảm xúc mà nhiều người cố kiềm nén hoặc né tránh,” Strack cho biết trên PsyPost. “Chúng tôi nhận thấy trong những nghiên cứu này lo âu thực sự có thể cho chúng ta nhiều năng lượng và sự tập trung. Nói cách khác, nhiều người sử dụng lo lắng để thúc đẩy chính mình, chúng tôi tạm gọi là ‘động lực lo âu’.”
Nghiên cứu vẫn có một số hạn chế. “Vì các nghiên cứu này chỉ dựa trên kết quả khảo sát chủ quan, các nghiên cứu trong tương lai có thể  tìm hiểu khái niệm về động lực lo âu trong điều kiện đánh giá hiệu quả làm việc hoặc các chỉ báo khách quan khác về động lực và/hoặc hiệu quả công việc,” Strack giải thích.
Nghiên cứu cũng sử dụng phương pháp cắt ngang mô tả, làm hạn chế khả năng các nhà nghiên cứu đưa ra kết luận về nguyên nhân-hệ quả.
“Trong các nghiên cứu khác chúng tôi cũng xem xét xa hơn về khái niệm động lực lo âu và nhận thấy chúng ta rất khác biệt trong cách sử dụng lo âu để thúc đẩy bản thân: một số sử dụng nguồn năng lượng mà lo âu mang lại, trong khi số khác dùng giá trị thông tin mà lo âu mang đến (cảm xúc hoạt động như một hệ thống phản hồi giúp chúng ta điều chỉnh tiến trình đi đến mục tiêu; ví dụ như lo âu có thể báo hiệu cho chúng ta biết các mục tiêu của chúng ta đạng bị đe dọa),” Strack chia sẻ thêm.
“Hơn nữa, động lực lo âu có thể giảm tải một số hậu quả tiêu cực của các tình huống gây căng thẳng: trong điều kiện thực nghiệm cũng như các nghiên cứu chiều dài, chúng tôi quan sát thấy động lực lo âu có thể bảo vệ cá nhân khỏi kiệt sức về cảm xúc (emotional exhaustion), cũng như giúp họ nhìn nhận các nhân tố gây căng thẳng như một thử thách tích cực hơn là những vấn đề mang tính đe dọa.”

Nghiên cứu “Must We Suffer to Succeed? When Anxiety Boosts Motivation and Performance”, đồng tác giả bởi Paulo Lopes, Francisco Esteves và Pablo Fernandez-Berrocal, công bố vào 24/05/2017.
Link nguồn: http://www.psypost.org/2017/07/people-can-use-anxiety-motivate-study-finds-49274
Dịch: S.N-Hành lang Tâm lý
Read More
Chất trắng trong não

ROBERTA
 JENKINS  
July19, 2017

Một nghiên cứu mới trên Scientific Reports cho thấy, việc thiếu hụt trong cấu trúc dẫn truyền chất trắng có liên hệ với những ngừoi được chẩn đoán có Rối loạn Nhân cách Chống đối Xã hội (Antisocial personality disorder-ASPD).

Những ngừoi có ASPD thường có khả năng tự kiểm soát kém, hung hăng và lạnh lùng. Những nét nhân cách trên đồng nghĩa với việc họ thường dễ tham gia vào các hoạt động tội phạm nhiều hơn so với dân số chung. Thực tế, 47% tù nhân nam giới được chẩn đoán có ASPD trên khắp thế giới. ASPD thường gặp ở đàn ông hơn phụ nữ, tỉ lệ lần lượt là 3% và 1% được chẩn đoán trên toàn dân số.
Các nghiên cứu cho rằng ASPD có liên hệ với những bất thường trong não bộ, dù vậy, sinh lý bệnh học (pathophysiology) chính xác của rối loạn này vẫn chưa được xác định. Tuy nhiên, việc khiếm khuyết trong cấu trúc của chất trắng được liên hệ tới tính bốc đồng (impulsivity) và hành vi rủi ro (risk-taking behavior) của ASPD.
Nhằm tìm hiểu về cấu trúc vi mô (microstructure)của chất trắng trong ASPD, một nhóm các nhà nghiên cứu đã tìm hiểu trên 20 người có chẩn đoán ASPD và 23 người khoẻ mạnh để làm nhóm đối chứng (control group). Những ngừoi tham gia đều là nam giới và hoàn thành một bài kiểm tra tính bốc đồng cũng như hành vi rủi ro trước khi được chụp MRI nhằm đo lường độ phân tán phân tử nước trong chất trắng.
Nghiên cứu cho thấy khiếm khuyết chất trắng ở các bệnh nhân có ASPD. Một khu vực gây chú ý là bó móc phải (right uncinate fasiculus), đường dẫn chất trắng gắn hệ viền (limbic system) với các khu vực não trán trước (frontal brain). Một phần hệ viền là hạnh nhân (amygdala)có liên hệ với việc hình thành các phản ứng về cảm xúc. Đồng thời, một số khu vực ở thuỳ trán (frontal lobe) được cho rằng hoạt động như tiếng nói của lý trí giúp chúng ta kiểm soát cảm xúc. Vì thế, khiếm khuyết về cấu trúc ở bó móc có thể chịu trách nhiệm cho biểu hiện giảm ức chế hành vi ở ngừoi có ASPD.
Bó móc cũng giúp nối kết các vùng não giúp kiểm soát lý lẽ xã hội và nhận thức cũng như ra quyết định. Thiếu mối liên kết giữa các khu vực này được cho rằng gây ra các vấn đề ở ASPD như đánh giá đạo đức kém, thiếu thấu cảm và dễ hung hăng. Thêm vào đó, các khiếm khuyết cũng được quan sát thấy ở đường dẫn chất trắng giúp kết nối các mạng luới thuỳ đỉnh và thuỳ thái dương, cũng gắn với tính bốc đồng và các hành vi rủi ro.
Nhìn chung, nghiên cứu dựa trên các kết quả từ trước, cho thấy những bất thường về não bộ ở cấu trúc vi mô của chất trắng. Những khiếm khuyết này, cùng với các tác nhân môi trường, có thể tạo nên sự “mất kết nối” gây ra những khiếm khuyết cảm xúc-xã hội thường gặp ở ASPD. Việc hiểu về cấu trúc sinh lý bênh học của ASPD có thể giúp giải mã những cơ chế giải phẫu thần kinh bên dưới tính bốc đồng, hung hăng và tàn nhẫn gắn với ASPD.
Nguồn: http://www.psypost.org/2017/07/antisocial-personality-disorder-linked-impairments-white-matter-microstructure-49349
Link nghiên cứu : https://www.nature.com/articles/srep43002
Dịch: Hành Lang Tâm Lý




Read More
Làm sao để ứng dụng kiến thức tâm lý?
Ngày nay, những cha mẹ mong muốn con mình có được sự phát triển trí tuệ tôt nhất thường tìm kiếm các ứng dụng kĩ thuật số về giáo dục, các chiến lược và chương trình nuôi dạy con dựa trên “não bộ”, cùng hằng hà sa số các phim ảnh, đồ chơi, các loại sản phầm khác nhau được thiết kế dựa trên những nghiên cứu mới nhất về học tập và phát triển não bộ.
Tuy nhiên, hai thành viên và cộng tác viên lâu năm của Hiệp hội Khoa học Tâm lý Kathy Hirsh-Pasek (ĐH Temple) và Roberta Golinkoff (ĐH Delaware) cho biết, hiện nay, các sản phẩm trên dường như không có mối liên hệ trực tiếp nào đến các nghiên cứu khoa học thật sự. Mặc cho một sô công ty có thuyết phục các bạn ra sao, không có bằng chứng nào cho thấy con cái bạn được hưởng lợi từ các sản phẩm này.
Vấn đề, theo Hirsh-Pasek và Golinkoff nhận định, nằm ở chỗ chính thị trường đã trở thành phương tiện qua đó đa số công chúng- bao gồm cha mẹ, các nhà giáo dục hay cả người làm chính sách- học biết về những bước tiến mới nhất của ngành “khoa học” về phát triển, tuy nhiên không phải tất cả đều mang tính khoa học. Để giải quyết vấn đề này, các nhà nghiên cứu cần trở nên tích cực hơn trong việc mang khoa học dưới con mắt của họ đến với công chúng.
Hirsh-Pasek và Golinkoff, cả hai đều được trao giải thưởng APS James McKeen Cattell Fellow Award vào năm 2015, chứng minh việc tập trung vào “nghiên cứu lấy việc sử dụng làm trọng tâm” (use-inspired research) có thể giúp chúng ta vượt qua ranh giới truyền thống giữa khoa học cơ bản và nghiên cứu ứng dụng, giúp tạo ra những ảnh hưởng khoa học có ý nghĩa.
Việc trộn lẫn khoa học cơ bản và khoa học ứng dụng vay mượn khung làm việc được nhà khoa học chính trị Donald Stokes đặt ra từ trước. Hirsh-Pasek and Golinkoff liệt kê hai khía cạnh mô tả cách thức họ tiếp cận: đi tìm cách hiểu căn bản và việc đưa vào sử dụng.
Một số các nhà khoa học nổi tiếng, bao gồm vật lý gia Niels Bohr, nhà vật lý và hoá học Marie Curie, cùng nhà tâm lý Edward Titchener, là những ví dụ tiêu biểu cho việc tập trung vào khoa học căn bản, theo đuổi việc nâng cao hiểu biết của chúng ta về thế giới. Họ không bận tâm – thậm chí tích cực từ chối- suy nghĩ về việc những phát hiện của họ sẽ được sử dụng ra sao.
Tuy nhiên, nhiều nhà khoa học khác lại theo đuổi các nghiên cứu hướng đến việc vừa chứng minh các lý thuyết căn bản và vừa đưa ra những hiểu biết về thế giới thực tế, tiêu biểu bao gồm nhà hoá học và vi sinh học Louis Pasteur, nhà phẫu thuật Virginia Apgar, và nhà tâm lý phát triển Urie Bronfenbrenner.
Trào lưu này, nơi nghiên cứu cơ bản và ứng dụng gặp nhau, là miền đất kì bí với nhiều nhà nghiên cứu. Tuy vậy, Hirsh-Pasek và Golinkoff đã đi theo con đường của một nghiên cứu nổi tiếng về phát triển ngôn ngữ ở trẻ em.
Năm 1995, Betty Hart và Todd Risley đã công bố phát hiện cho rằng những trẻ có ba mẹ được nhận trợ cấp xã hội trung bình sẽ tiếp xúc với số lượng chữ ít hơn ba lần so với những trẻ có ba mẹ có công việc chuyên môn. Suốt thời thơ ấu, trẻ có hoàn cảnh khó khăn sẽ nghe 30 triệu chữ ít hơn so với những trẻ có hoàn cảnh tích cực hơn. Điều này làm hạn chế vốn từ vựng và có thể ảnh hưởng tới khả năng viết và hiểu ngữ nghĩa.

Ý tưởng về “khoảng cách 30 triệu chữ” gây hoang mang cho các nhà nghiên cứu, các nhà giáo dục và cả những ngừoi làm luật. Suy nghĩ cho rằng có hay không chất lượng ngôn ngữ cũng quan trọng không kém đối với sự phát triển ngôn ngữ của trẻ khiến Hart, Risley và những nhà nghiên cứu khác trở nên bối rối.

Dựa trên những phát hiện trước, Hirsh-Pasek và Golinkoff quyết định đi tìm câu trả lời cho câu hỏi: Liệu số lượng chữ trẻ nghe có phải là tất cả?
Chất lượng hơn số lượng

Từ cơ sở dữ liệu lớn được thu thập như một phần của Nghiên cứu về Chăm sóc ban đầu và Phát triển Thanh Thiếu niên thuộc Viện Quốc gia về Sức khoẻ Trẻ em và Phát triển Con người Eunice Kennedy Shriver, Hirsh-Pasek, Golinkoff, và cộng sự đã phân tích dữ liệu từ 60 trẻ thuộc gia đình thu nhập thấp. Nhóm nghiên cứu chia trẻ thành ba nhóm dựa trên một số thang đo về khả năng ngôn ngữ nhằm tìm câu trả lời cho câu hỏi: Số lượng và chất lượng tương tác cha mẹ-con cái vào lúc 2 tuổi ảnh hưởng như thế nào đến khả năng ngôn ngữ của trẻ khi lên 3?

Kết quả rất cụ thể: Chất lượng rất quan trọng. Cả ba thang đo chất lượng tương tác chiếm tới 16% ảnh hưởng đối với điểm số ngôn ngữ của trẻ vào một năm sau, trong đó, khu vực giao giữa chất lượng và số lượng chiếm 10% ảnh hưởng. Số lượng ngôn ngữ khi đứng một mình chỉ chiếm 1% trong điểm số ngôn ngữ của trẻ.

Trong các nghiên cứu sau đó, các nhà nghiên cứu nhận thấy mối quan hệ cha mẹ-con cái rất quan trọng đối với khả năng học tập của trẻ thông qua TV và video chat với phụ huynh. Kết quả nghiên cứu cho thấy những gián đoạn trong giao tiếp giữa cha mẹ và con cái, như chuông điện thoại, cũng có thể ảnh hưởng đến khả năng học tập của trẻ.

Tổng hợp lại, nghiên cứu trên kết hợp với các phát hiện của Erica Cartmill, Meredith L. Rowe, Susan Goldin-Meadow và các nhà khoa học khác đã làm rõ thêm về hiện tượng khoảng cách 30 triệu chữ. Trong đó nhấn mạnh việc khoảng cách trên không thể bị san lấp bằng cách đơn thuần cho trẻ tiếp xúc với số lượng lớn từ ngữ.

 

Tiếp cận, tiêu hoá và sử dụng

Nghiên cứu lấy việc sử dụng làm trọng tâm đã đưa Hirsh-Pasek và Golinkoff đến những phát hiện quan trọng. Tuy nhiên các nhà nghiên cứu tâm lý biết rằng họ vẫn cần phải đi xa hơn nữa, vượt qua mô hình của Pasteur và Bronfenbrenner để diễn dịch các phát hiện thành “khoa học dễ tiêu hoá” mà công chúng có thể tiếp cận, xử lý và sử dụng.
Theo các nhà nghiên cứu, một cách để tạo ra nền khoa học dễ tiếp thu là đưa ra các nguyên tắc chung rút ra từ cơ sở dữ liệu của lĩnh vực đó. Tập trung vào các nguyên tắc chính cho phép các nhà khoa học xây dựng các sổ tay hướng dẫn dựa trên bằng chứng ứng dụng được cho tất cả các đặc điểm dân số và các nền văn hoá.
Khi chia sẻ công trình của mình, Golinkoff và Hirsh-Pasek tập trung vào việc diễn dịch các nghiên cứu của họ thành các kiến thức khoa học dễ tiếp thu thông qua việc truyền tải toàn bộ những trải nghiệm hình thành kiến thức của mình.
Ví dụ, từ chính nghiên cứu về giao tiếp cha mẹ-con cái của mình, các nhà khoa học mong muốn tìm hiểu xem làm sao để tăng cả số lượng và chất lượng tương tác trong môi trường tự nhiên, thường nhật. Nhóm nghiên cứu chi $60 để in các biểu ngữ có ghi các thông điệp như “Rau củ ưa thích của bạn là gì?” và “Liệu bạn có thể tìm mua một quả táo khác?”. Một số ngày, nhóm nghiên cứu sẽ đặt các biển báo trên trong các siêu thị, biến các cửa hàng thành phòng thực nghiệm tự nhiên của họ.
Các “can thiệp” ít tốn kém này đem đến những kết quả bất ngờ: Trong các siêu thị ở các khu vực có thu nhập thấp, các nhà nghiên cứu nhận thấy tương tác giữa cha mẹ và con cái tăng 33% trong những ngày các biển hiệu xuất hiện.
Năm 2010, nhóm nghiên cứu và các cộng sự tập trung 50000 cha mẹ và trẻ em tới Ultimate Block Party ở Công viên Trung tâm New York. Với sự hỗ trợ của Quỹ Khoa học Quốc gia, nhóm nghiên cứu thiết kế 28 hoạt động được các nhà khoa học chấp thuận tập trung đánh vào phát triển các khả năng nhận thức khác nhau, bao gồm học tập không gian, chức năng điều hành, ngôn ngữ và toán học.

Trong khi các sáng kiếm nhắm tới việc ứng dụng khoa học giáo dục vào môi trường thực tế thường tập trung chủ yếu vào cải cách nhà trường, Hirsh-Pasek và Golinkoff nhấn mạnh rằng các cơ hội đem khoa học về tâm lý phát triển vào đời sống thường nhật cần có quy mô rộng lớn hơn nhiều.

Dự án mới nhất của họ, Không gian Tư duy Đô thị, tập trung vào tạo nên các thành phố “thông minh”. Cả hai hợp tác với kiến trúc sư Itai Palti để tìm hiểu cách đưa khoa học về học tập vào từng cấu trúc nhỏ nhất của đô thị, từ ngọn đèn đường cho tới từng trạm xe buýt.
“Nhiều người trong số chúng ta (các nhà khoa học) ngần ngại đưa các phát hiện của mình vào thị trường ý tưởng vì chúng ta được đào tạo để luôn hoài nghi. Chúng ta muốn chạy thực nghiệm này đến đối chứng khác”, Golinkoff chia sẻ. “Tuy nhiên, dựa trên những dữ liệu vững chắc khác nhau, chúng ta thật sự biết rất nhiều điều có thể được dùng để giúp ích cho công chúng”. Golinkoff nói thêm “Thách thức của tất cả chúng ta là làm sao để thoát khỏi căn phòng của Pasteur và giúp các gia đình, các nhà làm luật, các nhà giáo dục hiểu được những kết quả nghiên cứu tuyệt vời mà chúng ta làm ra.”

References

Hirsh-Pasek, K., Zosh, J. M., Michnick Golinkoff, R., Gray, J. H., Robb, M. B., & Kaufman, J. (2015). Putting education in “educational” apps: Lessons from the science of learning. Psychological Science in the Public Interest, 16, 3–34. doi:10.1177/1529100615569721

Hirsh-Pasek, K., Adamson, L. B., Bakeman, R., Tresch Owen, M., Michnick Golinkoff, R., Pace, A., … Suma, K. (2015). The contribution of early communication quality to low-income children’s language success. Psychological Science, 26, 1071–1083. doi:10.1177/0956797615581493
March 31, 2016

Nguồn: http://www.psychologicalscience.org/observer/transcending-traditional-boundaries-to-create-edible-science#.WWSnHhP5iAw


Dịch: Hành Lang Tâm Lý
Read More
Truyền thông về biến đổi khí hậu

Các tiến trình tâm lý ảnh hưởng đến những quyết định chúng ta đưa ra mỗi ngày, kể cả những quyết định sai lầm. Nó có thể khiến chúng ta không muốn trả tiền cho những dịch vụ công giúp ích cho tất cả mọi người, kể cả những người không trực tiếp đóng góp. Nó khiến chúng ta tập trung vào những lợi ích ngắn hạn và cố gắng tránh né những thiệt hại tức thì. Đồng thời, nguy hiểm hơn cả, nó khiến chúng ta bắt đầu lý trí hoá và chối bỏ vấn đề thay vì bắt tay vào việc cố gắng vượt qua thách thức.

Trong một nghiên cứu được xuất bản trên BioScience, các nhà khoa học, bao gồm các nhà nghiên cứu đến từ Stanford, đã tìm hiểu những rào cản ngăn chúng ta giải quyết các vấn đề biến đổi khí hậu cũng như đưa ra những chiến lược bao gồm giáo dục, truyền thông, và nhiều can thiệp hành vi khác nhau nhằm vượt qua những rào cản đó.
“Cái giá của việc không hành động có thể rất tồi tệ, gây ra giảm sản lượng thực phẩm, khiến mực nước biển nâng cao, gia tăng đói nghèo cùng những nguy cơ khác với sức khoẻ và phúc lợi của nhân loại”, giáo sư tâm lý học tại Stanford, đồng tác giả nghiên cứu, Lee Ross, cho biết.

Nhóm nghiên cứu tiếp cận các vấn đề toàn cầu bằng cách tìm kiếm những ví dụ về các can thiệp tâm lý giúp thúc đẩy các hành động về môi trường. Những thành công trên quy mô nhỏ có cả ứng dụng việc hàng xóm so sánh lẫn nhau. Trong một nghiên cứu gây chú ý, các nhà nghiên cứu chứng minh rằng người dân sẽ giảm mức sử dụng năng lượng chỉ bằng cách nói với họ rằng họ đang dùng năng lượng nhiều hơn hàng xóm.

Những thay đổi từng bước nhỏ trong lựa chọn và hành vi của từng gia đình, cũng như những sáng kiến và giải pháp địa phương giúp thúc đẩy tiết kiệm năng lượng, có thể tạo ra những quy tắc mới cùng đưa đến việc áp dụng hình phạt đối với những người vi phạm.

Tuy nhiên, thách thức thật sự nằm ở việc cần có những hành động phối hợp mang tính tập thể giúp đem lại những lợi ích thật sự, Ross cho biết.
“Các kế hoạch hữu hiệu, bao gồm nghiên cứu công nghệ, có thể có vai trò quan trọng trong các công việc cùng các ngành công nghiệp mới về môi trường. Nó có thể mang lại nhiều ích lợi cho đất nước và đời sống của người dân.”

Thế nhưng, xem ra công chúng vẫn chưa nhìn nhận đầy đủ sự cấp thiết của vấn đề khí hậu. Trong một khảo sát của Pew Research Center vào năm 2014, chỉ 29% người Mỹ được hỏi cho rằng hiện tượng Trái Đất nóng lên toàn cầu cần phải trở thành ưu tiên chính của Quốc hội và Tổng thống Hoa Kỳ; thấp hơn nhiều so với lượng người xem việc đẩy mạnh kinh tế (80%), cải thiện thị trường lao động (74%), hay chống lại chủ nghĩa khủng bố (73%) là những ưu tiên hàng đầu.

Một nghiên cứu đăng tải trên Perspectives on Psychological Science giúp giải thích lý do của hiện tượng trên. Tác giả nghiên cứu Sander van der Linden, Edward Maibach, và Anthony Leiserowitz — đã xem lại các nghiên cứu về tâm lý nhằm xác định những khía cạnh quan trọng của biến đổi khí hậu và truyền thông về biến đổi khí hậu đã gây ra những hệ quả về việc, một bên là, đánh giá sai mức độ cấp thiết so với tầm nghiêm trọng của biến đổi khí hậu và, một bên là, sự thờ ơ của công chúng. Các nhà khoa học chỉ ra năm yếu tố của tâm lý con người khiến cho việc truyền thông về biến đổi khí hậu trở nên đặc biệt khó khăn. Đồng thời, các tác giả cũng đưa ra những khuyến nghị để giúp các chính sách cũng như truyền thông khoa học trở nên hữu hiệu hơn.

Sau đây là 5 yếu tố cùng các khuyến nghị đi kèm:
  • Đầu tiên, con người thường phản ứng nhiều hơn trước các trải nghiệm cá nhân so với những phân tích trừu tượng. Đây có thể là vấn đề vì biến đổi khí hậu thường được mô tả bằng các thuật ngữ rất trừu tượng và mang tính thống kê – chúng ra chỉ thấy con số và dữ liệu nhưng lại hiếm khi nhận ra tác động của biến đổi khí hậu trong các trải nghiệm thường nhật của bản thân. Các tác giả cho rằng “thông tin về các nguy cơ biến đổi khí hậu cần được diễn dịch thành các trải nghiệm cá nhân gần gũi và cụ thể.” May mắn thay (một cách trớ trêu), điều này có lẽ không quá khó: Biến đổi khí hậu đã đang diễn ra theo những cách ảnh hưởng đến cuộc sống hàng ngày của chính chúng ta.
  • Thứ hai, khi đối mặt với quy mô của biến đổi khí hậu, chúng ta dễ có cảm giác mình sẽ không làm được gì nhiều. Tuy nhiên thay vì thất vọng, chúng ta có thể cậy dựa vào việc chúng ta là những thực thể xã hội, chịu ảnh hưởng bởi những quy luật xã hội. Thúc đẩy cá nhân hành động có thể là một thách thức, tuy nhiên việc thiết lập và tưởng thưởng các quy luật cộng đồng hoàn toàn có thể giúp khuyến khích hành vi tích cực với môi trường, thậm chí ngay cả khi hành vi cá nhân xem ra chỉ như muối bỏ bể.
  • Thứ ba, chúng ta thường đánh giá những vấn đề cá nhân và tức thời khác cách chúng ta cân nhắc những vấn đề xa xôi và không chắc chắn. Chúng ta thường dễ bỏ qua các vấn đề biến đổi khí hậu nếu chúng được mô tả với khoảng cách thời gian và không gian lớn. Khi ra quyết định, ví dụ, những chi phí tức thời (như những bất tiện khi phải giảm lượng khí thải của cá nhân) thường có vẻ lớn, trong khi những chi phí chưa rõ (như những hệ quả của việc môi trường nóng dần lên) thường bị xem nhẹ. Truyền thông thay đổi khí hậu cần phải trở nên hiệu quả hơn bằng cách tập trung vào những tác động cụ thể của hiện tượng Trái Đất nóng dần lên trong khu vực với khoảng cách không gian và thời gian nhỏ hơn-tiêu biểu như những tác động chúng ta có thể thấy trong cộng đồng khu vực của mình.
  • Thứ tư, nghiên cứu cho thấy thái độ của chúng ta đối với những mối nguy cơ có thể phụ thuộc vào việc chúng ta suy nghĩ đến lợi ích hay đến thiệt hại tiềm tàng. Cụ thể, chúng ta thay có xu hướng chấp nhận rủi ro khi suy xét vấn đề dưới góc độ “thiệt hại”. Khả năng chất lượng cuộc sống bị sụt giảm là một rủi ro mà nhiều người sẵn sàng chấp nhận. Các tác giả viết “việc chuyển đổi cách nói chuyện về các chính sách từ những hệ quả tiêu cực tiềm tàng trong tương lai do không hành động (thiệt hại) trước biến đổi khí hậu sang những lợi ích tích cực của việc hành động tức thời có thể giúp làm tăng sự ủng hộ của công chúng.”
  • Cuối cùng, nghiên cứu cho rằng việc thúc đẩy hành vi với các phần thưởng bên ngoài (extrinsic reward) -như thưởng tiền giành cho việc tiết kiệm năng lượng-có thể trở nên hiệu quả hơn nếu kết hợp với việc khơi gợi những động lực bên trong (intrinsic motivation) để nâng cao phúc lợi cuộc sống và quan tâm đến môi trường. Cụ thể: “Khơi gợi động lực bên trong cần phải hiệu quả hơn và trở nên động lực lâu dài cho những hành vi thân thiện với môi trường.” Khi được thúc đẩy từ bên trong, các hành vi tích cực sẽ có khả năng được tiếp tục duy trì ngay cả khi phần thưởng bên ngoài đã chấm dứt, phần thưởng bên ngoài thậm chí có thể làm suy yếu những động lực bên trong dẫn đến sự thay đổi.

Tóm lại, biến đổi khí hậu thường được thể hiện như một khái niệm trừu tượng, có thiệt hại không rõ ràng, quá xa cách về không gian và thời gian, đồng thời cần phải có những phần thưởng bên ngoài để thúc đẩy cá nhân hành động. Các nghiên cứu tâm lý cho thấy đó là một sự kết hợp rất nguy hiểm, có thể khiến chúng ta đánh giá thấp rủi ro và ngăn chúng ta hành động. Thay vào đó, các nhà làm chính sách và truyền thông khoa học cần phải tập trung vào những đặc điểm cụ thể của biến đổi khí hậu trong trải nghiệm thường nhật, vào những hệ quả của hiện tượng nóng lên toàn cầu đang tác động đến cộng đồng ở đây và ngay lúc này, đồng thời hành động của chúng ta cần phải gắn với lợi ích thay vì thiệt hại, với các quy tắc xã hội và với những động lực bên trong của mỗi người.
Hành Lang Tâm Lý dịch và tổng hợp từ:
http://news.stanford.edu/2016/04/13/scientists-suggest-appealing-human-psychology-create-solutions-climate-change/
http://www.npr.org/sections/13.7/2015/11/30/457835780/how-psychology-can-save-the-world-from-climate-change




Read More
Thể thao ở người cao tuổi

Rebecca A. Clay
April 2017, Vol 48, No. 4, Monitoring on Psychology

Khi TS Anne Bowen bị gãy xương đòn sau khi ngã khỏi ngựa, bác sĩ của bà cho rằng việc xương của bà không lành hoàn toàn không có vấn đề gì to tát. “Ý của ông là tôi đã quá già đề phải lo lắng về nó, ông ấy cho rằng tôi có thể sống chung với nó”, Bà Bowen, giáo sư tâm lý 64 tuổi thuộc ĐH Arizona cho biết. Tuy nhiên, bà không thể sống chung với điều đó. Bà rất nghiêm túc trong việc học cưỡi ngựa đến mức sẵn sàng thuê người huấn luyện để bà đạt đến mức kỹ năng cao nhất. Bà cũng mong đó là con đường bà sẽ theo đuổi đến cuối đời. Bowen cho biết, “Tôi hi vọng đó là cách tôi kết thúc cuộc đời của mình-ở trên lưng ngựa.”

Trải nghiệm này giúp Bowen bắt tay vào một loạt các nghiên cứu mới tìm hiểu về động lực của những vận động viên cao tuổi và những ngăn trở họ phải đối mặt.
Số lượng người cao tuổi ở Mỹ hiện đang tăng nhanh, số lượng người cao tuổi tham gia thi đấu thể thao cũng đang phát triển tương tự. […] Các nhà tâm lý, vận động học và các chuyên ngành khác cũng bắt đầu tìm hiểu điều gì thúc đẩy những vận động viên cao tuổi tham gia tranh tài, đâu là những ích lợi đến từ việc tích cực vận động và liệu có hay không những mặt trái của việc thi đấu thể thao khi về già.

Thách thức tuổi tác
Nghiên cứu định tính của Bowen với những vận động viên cao tuổi cho thấy một số đặc điểm chung về lý do tại sao họ thi đấu. Với một số người, vấn đề không còn nằm ở việc thi đấu. “Tôi quan tâm nhiều hơn đến tiến trình…thay vì mục tiêu,” một vận động viên 66 tuổi chia sẻ với Bowen trong khi đang giới thiệu những phần thưởng bà đã đạt được trong quá khứ. “Những thứ này không quá hấp dẫn với tôi. Tôi yêu thích quá trình đạt được chúng. Quá trình đó có khả năng gây nghiện.”

Những vận động viên cao tuổi cũng mô tả những lợi ích tâm lý và thể lý của việc tập luyện, kể cả việc giảm cân, cùng với việc thiết lập các mạng lữoi xã hội với những vận động viên khác. Bowen cho biết “Tôi kì vọng được nghe nghiệm thể nói về những ngăn trở xã hội-như việc nghe người khác nói ‘Ông/bà đã già rồi, ông bà nên nghỉ ngơi, đừng làm mình bị đau’”. “Tuy nhiên xem ra tín hiệu tích cực hơn khá nhiều”.

Theo TS Rylee A. Diogini, giáo sư văn hoá xã hội tại Trường Khoa học Vận động, Thể thao và Sức khoẻ, thuộc ĐH Charles Sturt tại Bathurst, Úc, phát hiện này phù hợp với các nghiên cứu khác về động lực của vận động viên cao tuổi. Vào năm 2013, trong một nghiên cứu trên tạp chí Sport, Education and Society, Dionigi cùng các cộng sự đã phỏng vấn những người tham gia thi đấu tại World Masters Games. Khác với “câu chuyện văn hoá phổ thông” về việc cơ thể đang xuống dốc, các nhà nghiên cứu nhận thấy những vận động viên với độ tuổi trung bình là 72 cùng lúc vừa phản kháng, vừa tái định nghĩa và vừa chấp nhận tuổi già.

Các ứng viên mô tả việc luyện tập thể thao như một cách lam chậm quá trình lão hoá. “Tôi cho rằng mình chưa già như tuổi 80,”một vận động viên chia sẻ với nhóm nghiên cứu. “Tôi chỉ hơi bị hao mòn chút đỉnh, bạn nghĩ bạn già như thế nào thì bạn sẽ già như thế ấy”. Những người cao tuổi này cũng mô tả những kích thích về xã hội, tinh thần và thể lý mà thể thao mang lại. Thông qua thay đổi môn thể thao hay tham gia luyện tập mà không bân tâm đến thành tích, người tham gia còn nói đến khả năng thích ứng với việc đánh mất tốc độ, tính linh hoạt và các đặc điểm thế lý khác.

Một số lượng lớn các nghiên cứu khoa học thần kinh hiện nay cho thấy vận động cường độ cao có thể giúp làm chậm tiến trình lão hoá về nhận thức. Trong một nghiên cứu vào năm 2016 trên tạp chí Neurology, các nhà nghiên cứu yêu cầu 900 người cao tuổi thuộc nhiều chủng tộc và sắc tộc khác nhau trả lời về hoạt động thể chất của họ vào thời gian rảnh trong vòng 2 tuần. Khoảng 7 năm sau, nhóm nghiên cứu sẽ kiểm tra khả năng nhận thức của họ và kiểm tra lại một lần nữa sau 5 năm tiếp theo. 10% ngừơi tham gia có cường độ hoạt động từ vừa cho tới cao-ví dụ như chạy bộ hay aerobics-có mức độ suy giảm chức năng nhận thức chậm hơn 90% những nghiệm thể cho biết chỉ có mức hoạt động thấp-như chỉ đi bộ hay tập yoga-hay hoàn toàn không vận động.

Trong số những người không có các vấn đề về nhận thức vào thời điểm kiểm tra lần đầu tiên, nhóm hoạt động với cường độ nhẹ cho thấy mức suy giảm lớn về tốc độ xử lý và trí nhớ sự kiện (episodic memory) sau 5 năm. Kết quả này vẫn tương tự sau khi đã kiểm soát các yếu tố về hút thuốc, cao huyết áp và các yếu tố khác có thể gây ảnh hưởng tới sức khoẻ của não bộ. Nhóm nghiên cứu kết luận rằng, khác biệt về tốc độ suy giảm này tương đương với 10 năm lão hoá.

Trong khi các hoạt động thể chất có thể không đem lại nhiều ích lợi cho những người đã có các dấu hiệu về vấn đề nhận thức hay suy giảm trí nhớ, nghiên cứu cho thấy nó có thể bảo vệ những bộ não vẫn còn khoẻ mạnh. Đó là kết luận của Bác sĩ Clinton B. Wright, người thực hiện nghiên cứu trên tại ĐH Y Miller, thuộc ĐH Miami. Tuy nhiên, ông cho biết cần có thêm nhiều nghiên cứu về vấn đề này.

“Đó là một nghiên cứu quan sát”, Wright nhấn mạnh. Cần phải có các nghiên cứu lâm sàng ngẫu nhiên (randomized clinical trial) để khẳng định rằng thể dục thể thao có thể giúp làm chậm tiến trình lão hoá não bộ. “Các tiếp cận mới có tính đến các thách thức trong đời thực, ví dụ như nghiên cứu lâm sàng thực tế (pragmatic clinical trial), đang rất được quan tâm”, Wright cho biết.

Nghiên cứu trên não bộ của một vận động viên cao tuổi tên Olga Kotelko cho thấy vận động cường độ cao thậm chí còn có thể mang lại những lợi ích mang tính phòng tránh. Kotelko, một giáo viên về hưu chuyển hướng sang thi đấu thể thao cao tuổi, bắt đầu chơi bóng mềm ở độ tuổi 65. Sau đó, bà chuyển sang điền kinh vào tuổi 77 và lập kỷ lục thế giới cũng như thắng hàng trăm huy chương vàng trong giải thi đấu cho ngừơi cao tuổi trước khi qua đời ở tuổi 95.

Trong nghiên cứu được công bố vào năm 2016 trên Neurocase, nhà khoa học thần kinh nhận thức, TS Agnieszka Z. Burzynska, giảng dạy về phát triển con người và nghiên cứu gia đình ở ĐH Bang Colorado tại Fort Collons, cùng đồng nghiệp đã so sánh kết quả chụp cộng hưởng từ và trắc nghiệm nhận thức của Kotelko lúc 93 tuổi với một nhóm các phụ nữ khoẻ mạnh, trẻ hơn 20 tuổi nhưng có mức hoạt động thấp. Kết quả cho thấy não bộ của Kotelko có những thay đổi liên quan đến tuổi tác. Tuy vậy, điều đáng ngạc nhiên là chất trắng của bà ít bị ảnh hưởng, đặc biệt ở phần gối thể chai (genu of the corpus callosum), nơi có các bó sợi nối với các phần não trán trước. Chúng chịu trách nhiệm cho các hoạt động nhận thức cấp cao. Mặc dù phần gối là phần chất trắng dễ bị ảnh hưởng bởi tuổi tác nhất, theo Burzynska, phần này ở Kotelko lại có điều kiện tốt hơn những ngừơi trong nhóm đối chứng.

Burzynska tin rằng không chỉ một mình luyện tập thể thao mang lại sự bền bỉ cho bộ não của Kotelko, chính mức hoạt động trung bình cùng ý chí đối mặt với thử thách, bao gồm thể thao, tình nguyện và du lịch đã góp phần mang lại kết quả trên. Burzynska nhận xét, “Olga tự tạo ra một môi trường phát triển phong phú cho chính mình.”
“Chúng ta không thể bảo đảm rằng bất kỳ ai luyện tập thể thao ngay sau khi nghỉ hưu đều sẽ có huy chương vàng hay não bộ của họ đều sẽ tiến triển tích cực”, Burzynska bổ sung, ví dụ trên chỉ là một điển cứu đơn lẻ về não bộ tại một thời điểm nhất định. “Tuy nhiên nó cho thấy bằng chứng về những ích lợi có thể có được khi bắt đầu và duy trì vận động tích cực lúc cao tuổi.”

Một bức tranh đa diện
Khi nói đến những tác động tâm lý do việc tham gia thể thao khi cao tuổi mang đến, nghiên cứu cho thấy nhiều kết quả khác nhau. Đó là nhận định của TS Amy M. Gayman, thành viên khoa vận động học thuộc ĐH Wilfrid Laurier, Waterloo, Canada.

Trong một bài tổng hợp nghiên cứu về việc tập luyện thể thao ở người trên 65 tuổi được đăng tải trên International Review of Sport and Exercise Psychology, Gayman cùng cộng sự nhận thấy thể thao giúp người cao tuổi đạt được cảm giác năng lực, niềm vui, nhiều mối quan hệ xã hội mới và có một nhân dạng tích cực hơn bên cạnh những ích lợi về nhận thức. Bài tổng hợp cũng cho thấy thể thao có thể mang lại động lực cho phụ nữ cao tuổi, và cả ở đàn ông nhưng ở một mức độ thấp hơn.

“Trong khi đàn ông thường quan sát kết quả của bản thân và so sánh với kết quả của phụ nữ hay của những người trẻ hơn, phụ nữ sẽ nhìn kết quả của mình và cảm thấy được truyền động lực bởi những thành tựu mình đạt được, bất kể họ đã làm gì trước đây hay những ngừoi khác làm được những gì,” Gayman chia sẻ. Tuy nhiên, cả ở đàn ông và phụ nữ, việc hiệu quả hoạt động bị giảm sút một cách không thể tránh khỏi do tuổi tác có thể gây chán nản, ưu phiền. Gayman cho biết, “Khi hiệu năng sụt giảm, người cao tuổi sẽ trải nghiệm một số cảm xúc tiêu cực, cụ thể hơn là nỗi sợ hãi bị lão hoá.”

Mối nguy đến từ việc kích hoạt nỗi sợ này không phải là hạn chế duy nhất của việc luyện tập thể thao lúc cao tuổi. Vận động viên lớn tuổi có thể phải đối mặt với sự chống đối đến từ những người xung quanh. Khi nghĩ đến thể thao, bạn sẽ nghĩ đến những ngừoi trẻ khoẻ, không phải đến những người 80 tuổi chạy marathon, Gayman nhận định. Những thiên kiến như vậy được ghi nhận trong những nhận xét mà các vận động viên cao tuổi hay nghe. “Người ta nói ‘Ông/Bà đang luyện tập và thi đấu à? Ông/Bà già rồi. Chẳng phải đây là lúc nghỉ ngơi và tận hưởng cuộc sống hay sao?’” Gayman ví dụ. Đồng thời, những căng thẳng trong gia đình cũng có thể xuất hiện khi vợ chồng hay những người xung quanh lo ngại về thời gian người cao tuổi sử dụng để luyện tập và thi đấu. Thay vào đó, xã hội hay kì vọng họ làm những việc nhẹ nhàng ở nhà.

Cần có thêm nhiều nghiên cứu trong lĩnh vực mới mẻ này, TS Joseph Baker, đồng tác giả của nghiên cứu và là giáo sư khoa học sức khoẻ và vận động tại ĐH York, Toronto, cho biết. "Những điều chúng tôi kết luận vào cuối bài tổng quan hệ thống của mình là chúng ta hiện chưa có đủ thông tin”.
Đa phần dữ liệu tập trung vào sức khoẻ thể chất, Baker nhận xét. “Nếu chúng ta nhìn nhận theo hướng đó, tuyệt nhiên tham gia luyện tập thể thao sẽ có lợi,” ông cho biết. “Tuy nhiên nếu chúng ta nhìn theo một hướng khác, có lẽ không hẳn là vậy”. Sức khoẻ không phải là một khái niệm đơn lẻ, nó mang tính đa diện. “Với các vận động viên cao tuổi, chúng ta biết nhiều về khía cạnh thể chất và dần biết nhiều hơn về các khiá cạnh xã hội và nhận thức. Tuy nhiên, chúng ta không biết gì về những yếu tố khác của sức khoẻ-như cảm xúc, tinh thần và nhiều phương diện khác.”

Tương tự, “thể thao” không phải là một thứ đơn lẻ, Baker lưu ý về khác biệt giữa các môn thể thao khác nhau chú trọng năng lượng, sức bền, tốc độ và chiến lược. Một số môn thể thao có thể tốt cho người cao tuổi hơn một số môn khác. Bên cạnh đó, mẫu nghiên cứu mà các dự án thực hiện chưa phản ánh hết sự phong phú của những vận động viên cao tuổi. “Nếu bạn đi tới Thế Vận Hội Người cao tuổi, bạn sẽ nhận thấy sự áp đảo của những người Âu Châu giàu có, thường đến từ Bắc Mỹ hay Úc”, ông cho biết.
Vậy, Baker kết luận, “thông điệp chung là: thể thao là tốt. Hãy nhìn vào những vận động viên cao tuổi: họ cho thấy một hình mẫu tích cực và thành công khi về già. Tuy nhiên, còn có nhiều yếu tố hơn thế.”

Link nguồn: http://www.apa.org/monitor/2017/04/cover-aging-motion.aspx
Dịch: Hành Lang Tâm Lý

Các bài khác có liên quan đến ngừoi cao tuỏi trên Hành Lang Tâm Lý
HOẠT ĐỘNG XÃ HỘI GIÚP LÀM CHẬM TIẾN TRÌNH SUY GIẢM CHỨC NĂNG Ở NGƯỜI CAO TUỔI:
http://hanhlangtamly.blogspot.com/2016/11/hoat-dong-xa-hoi-va-nguoi-cao-tuoi.html

NHÂN VIÊN CAO TUỔI VÀ CÁC VẤN ĐỀ TRONG TUYỂN DỤNG
http://hanhlangtamly.blogspot.com/2015/05/nhan-vien-cao-tuoi-va-cac-van-de-trong-tuyen-dung.html

TUỔI GIÀ VÀ TÌNH YÊU: NGHIÊN CỨU VỀ ĐỜI SỐNG TÌNH DỤC Ở NGƯỜI CAO TUỔI
http://hanhlangtamly.blogspot.com/2015/02/tuoi-gia-va-tinh-yeu-tinh-duc-nguoi-cao-tuoi.html






Read More
Công nghệ ảnh hưởng tương tác xã hội

Các nghiên cứu tâm lý cho thấy điện thoại thông minh ảnh hưởng đến sức khoẻ tinh thần và thể lý của chúng ta ra sao và đâu là cách để giành lại quyền kiểm soát cuộc sống của chúng ta.
Kirsten Weir March2017, Vol 48, No. 3, Monitoring on Psychology

Apple giới thiệu iPhone vào năm 2007 và thế giới đã không bao giờ còn như xưa. Dù iPhone không phải là điện thoại thông minh đầu tiên sử dụng nền tảng internet, công nghệ màn hình cảm biến và các ứng dụng tích hợp đã giúp iPhone chiếm lĩnh thị trường và khởi đầu một cuộc cách mạng. Ngày nay, các thiết bị di động không dây đã xuất hiện trong túi của hàng triệu người, không chỉ có vai trò đơn thuần là một chiếc điện thoại mà còn được sử dụng để lướt internet, nhắn tin, sắp xếp thời gian biểu, quay phim, báo thức, chỉ đường và xem phim.

Năm 2015, theo Pew Research Center, 72% ngừoi Mỹ cho biết mình sở hữu một chiếc điện thoại thông minh (Pew, 2016). Chắc chắn, điện thoại thông minh khiến cuộc sống của chúng ta trở nên dễ dàng hơn. Đó là nhận định của TS Elizabeth Dunn, giáo sư tâm lý học tại ĐH British Columbia, chuyên nghiên cứu về tác động tích cực và tiêu cực của công nghệ di động lên sức khoẻ tinh thần và thể lý của con người. “Toàn bộ tri thức nhân loại nằm bên dưới ngón tay của chúng ta, điều đó chắc chắn sẽ rất hữu ích”. Tuy nhiên, cũng có nhiều thứ bị đánh đổi để đem lại sự tiện lợi đó. Công nghệ di động cũng đồng thời có sức mạnh ảnh hưởng tiêu cực đến sức khoẻ và hạnh phúc của con ngừoi, bà cho biết. “Trung tâm của chúng tôi vẫn tìm kiếm những lợi ích [của việc sử dụng điện thoaị thông minh], nhưng nhìn chung những bất cập vẫn luôn xuất hiện”.

Tệ nhất, các nghiên cứu cho thấy điện thoại thông minh có thể làm ảnh hưởng đến giấc ngủ, khiến chúng ta bị căng thẳng và tập trung quá nhiều sự chú ý vào nó. Tuy vậy, tâm lý học có thể nắm giữ chìa khoá trong việc giúp mọi người kiểm soát công nghệ này, phòng tránh những tác hại tiêu cực và tăng cường sức khoẻ tinh thần của chúng ta. Dunn cho biết, những nhà phát triển công nghệ không làm việc trong các lĩnh vực nâng cao sức khoẻ, đó là công việc của những nhà tâm lý. “Tôi nghĩ chúng tôi nên giành nhiều sự quan tâm hơn đến vấn đề này,”.

Kẻ cắp giấc ngủ
Hiện tại, các nghiên cứu về tác động của việc sử dụng điện thoại thông minh lên hành vi và chức năng của chúng ta vẫn chưa đi tới những kết luận cụ thể, phần lớn là vì tất cả diễn ra quá nhanh, Karla Kelin Murdock, giáo sư tâm lý tại Phòng Thí nghiệm Công nghệ và Sức khoẻ tại ĐH Washington và Lee cho biết. “Công nghệ thường xuyên thay đổi. Rất khó để định lượng các mặt quan trọng của việc sử dụng điện thoại thông minh khi những khía cạnh định tính vẫn liên tục thay đổi”, bà cho biết.

Tuy vậy, một số mô hình đang xuất hiện. Một số các bằng chứng vững vàng được nghiên cứu xung quanh giấc ngủ, “Tôi nghĩ rằng chúng ta có một số lượng lớn các nghiên cứu cho rằng không nên sử dụng điện thoại thông minh trước khi đi ngủ”, Murdock cho biết.

Bà đã theo dõi 83 sinh viên đại học trong suốt 1 tuần và nhận thấy các sinh viên hay theo dõi các tin báo trên điện thoại thông minh vào giờ ngủ thường tự đánh giá bản thân có chất lượng giấc ngủ thấp và hay gặp các vấn đề về giấc ngủ (Behavioral Sleep Medicine, 2016).

Dù thường được mô tả là các thiết bị giúp nâng cao hiệu xuất làm việc, việc điện thoại thông minh can thiệp vào giấc ngủ lại gây ra những hiệu ứng trái ngược. TS Russell E. Johnson, giáo sư quản lý tại ĐH Bang Michigan, cùng cộng sự đã khảo sát ngừoi lao động thuộc các ngành nghề khác nhau. Các nhà nghiên cứu nhận thấy rằng, khi sử dụng điện thoại di động vào ban đêm để làm việc, các nghiệm thể cho biết thường ngủ tệ hơn và khó tập trung làm việc vào ngày hôm sau. Những hệ quả trên sẽ lớn hơn ở ngừoi sử dụng điện thoại thông minh so với ngừoi sử dụng máy tính hay tablet trước khi đi ngủ (Organizational Behavior and Human Decision Processes, 2014).

Một giải thích khác của việc điện thoại thông minh ảnh hưởng đến giấc ngủ là “ánh sang xanh” mà điện thoại thông minh hay các thiết bị điện tử khác phát ra. Ánh sáng đó có ảnh hưởng đến việc sản xuất hormone melatonin giúp điều hoà giấc ngủ. Tuy nhiên, laptop và tablet cũng có ánh sáng tương tự. Điều này cho thấy có những yếu tố khác ảnh hưởng đến vấn đề này.

Điện thoại thông minh mang tính “di động” nhiều hơn cả laptop hay tablet, nó cũng rất tiện lợi để mang vào giường ngủ, Murdock nhận xét. Trong thực tế, nhiều người sử dụng điện thoại thông minh để báo thức và đặt gần tầm với khi đi ngủ. Việc đọc tin nhắn hay email trên giường có thể sẽ làm đảo lộn cảm xúc hay khiến bạn phải trăn trở về những thứ bạn cần phải làm. “Đầu óc của bạn sẽ bị kích hoạt trong khi đáng nhẽ đó là lúc quan trọng để thư giãn và nghỉ ngơi,” bà nói.

Ngay cả sau khi tắt đèn, cũng rất khó để bạn chống cự lại sức hấp dẫn của chiếc điện thoại. TS K. Adams và TS Tiffani Kissler, thuộc ĐH Rhode Island, đã yêu cầu một số sinh viên đại học ghi lại nhật ký giấc ngủ trong một tuần. Họ phát hiên 40% sinh viên đứng dậy đi lại vào ban đêm để trả lời điện thoại, 47% thức giấc để trả lời tin nhắn. Các sinh viên hay sử dụng điện thoại sau khi đã đi ngủ thường cho biết bản thân có giấc ngủ kém, đó cũng là yếu tố dự đoán các triệu chứng lo âu và trầm cảm (CyberPsychology, Behavior and Social Networking, 2013).

Hiện tượng FOMO
Lo âu và điện thoại thông minh thường đi đôi với nhau, TS Larry Rosen, giáo sư tâm lý danh dự tại ĐH Bang California State University, cho biết. Ông đã nghiên cứu tâm lý học về công nghệ hơn 35 năm. Trong một nghiên cứu, ông cùng các đồng nghiệp đã giữ điện thoại của các sinh viên đại học trong một tiếng đồng hồ và đo mức độ lo âu của họ vào các thừoi điểm khác nhau.

Mức độ lo âu ở những người ít sử dụng điện thoại thường không thay đổi, họ cũng thường ngồi yên khi không có điện thoại của mình. Những người có mức sử dụng trung bình bắt đầu cho thấy các dấu hiệu lo âu tăng dần sau 25 phút, tuy nhiên lượng lo âu vẫn ổn định trong suốt thời gian thực nghiệm còn lại. Những người sử dụng điện thoại thường xuyên cho thấy mức lo âu tăng cao chỉ sau 10 phút không có điện thoại. Khác với những người sử dụng trung bình, những người ở mức cao có mức độ lo âu tiếp tục tăng trong suốt 1 tiếng đồng hồ sau đó (Computers in Human Behavior, 2014).

Rosen nhận thấy rằng thanh thiếu niên thường lo âu nếu họ không kiểm tra tin nhắn, mạng xã hội hay các thiết bị di động thường xuyên. Tuy nhiên, nghiệm thể ở tất cả các độ tuổi đều có mối quan hệ mật thiết với điện thoại. 76% người từ 50-70 tuổi cho biết thường xuyên hay rất thường xuyên kiểm tra hộp thư thoại, 73% thường hay rất thường xuyên kiểm tra tin nhắn (Computers in Human Behavior, 2013).
Tất cả các độ tuổi đều bị ảnh hưởng bởi hiện tượng “FOMO”, fear of missing out-sợ bỏ sót, không cập nhật những thông tin và trải nghiệm mà người khác có vào bất kỳ thời điểm nhất định nào. Rosen cho biết “Chúng ta đã tạo ra một hệ thống mà trong đó chúng ta cảm thấy bị buộc phải kiểm tra, cập nhật mọi nơi mọi lúc”.

Tuy vậy, việc thường xuyên tiếp xúc với thế giới kĩ thuật số không hẳn là lành mạnh hay hữu ích. Trong cùng nghiên cứu về tần suất con người kiểm tra điện thoại, Rosen cùng cộng sự đã tìm hiểu mối quan hệ giữa những yếu tố liên quan tới công nghệ và một loạt các rối loạn khí sắc và nhân cách khác nhau. Một vài mối liên hệ đã được phát hiện. Một số khá tích cực-có nhiều bạn trên Facebook cộng với việc thường xuyên trò chuyện trên điện thoại có liên hệ với việc ít xuất hiện các triệu chứng trầm cảm. Tuy nhiên, có nhiều bằng chứng khá tiêu cực. Ví dụ, việc lo âu do không kiểm tra tin nhắn và Facebook giúp dự đoán các triệu chứng trầm cảm nặng (major depression), trầm cảm kéo dài (dysthymia) và hưng cảm lưỡng cực (bipolar mania).

Dunn cũng nghiên cứu về tác động của việc một người bị buộc liên tục sử dụng điện thoại của mình. Theo hướng tích cực, nghiên cứu cho thấy thay đổi cách chúng ta tương tác với công nghệ có thể giúp cải thiện sức khoẻ.

Trong một nghiên cứu, Dunn cùng cựu nghiên cứu sinh của mình, TS Kostadin Kushlev, đã theo dõi 124 người trưởng thành trong suốt 2 tuần. Trong tuần đầu, nghiệm thể được tự do liên tục kiểm tra email cả ngày. Trong tuần còn lại, họ chỉ được kiểm tra email (cả công việc và cá nhân) ba lần một ngày. Các nghiệm thể cho biết cảm thấy ít căng thẳng hơn trong tuần việc kiểm tra email bị hạn chế. Mức căng thẳng thấp này được liên hệ với những tác động tích cực như có trạng thái định tâm tốt hơn, có cảm nhận về năng suất làm việc cao hơn và có chất lượng giấc ngủ tốt hơn (Computers in Human Behavior, 2015).

Trong một nghiên cứu tương tự kéo dài trong hai tuần, Dunn và Kushley nghiên cứu về các tín hiệu thông báo của điện thoại thông minh-những tiếng tít tít hay tiếng rung khi có tin nhắn, email hay những thông tin cập nhật trên mạng xã hội. Trong một tuần, các nghiệm thể được yêu cầu giữ điện thoại bên mình và bật tin báo. Trong tuần còn lại, các nghiệm thể sẽ tắt tin báo và để điện thoại xa tầm với. Vào cuối mỗi tuần, những người tham gia sẽ điền một bảng khảo sát đo đạc khả năng chú ý. Trong tuần bật tin báo, các nghiệm thể cho thấy mức tập trung thấp và mức tăng hoạt động cao so với tuần không bật tin báo (Proceedings of the 2016 CHI Conference on Human Factors in Computing Systems, 2016).
Dunn phát hiện, những cảm giác tăng hoạt động và kém tập trung trên liên hệ trực tiếp tới hiệu suất làm việc kém, khả năng nối kết xã hội giảm và sức khoẻ tinh thần thấp. “Khả năng chú ý bị phân tán bởi những thứ gây gián đoạn thường xuyên có thể gây ra hiệu ứng domino”, bà chia sẻ.

Những mối liên hệ trong thực tế
Không may, việc tắt thông báo điện thoại không dễ thực hiện như trên lý thuyết, đặc biệt trong nền văn hoá FOMO hiện nay. Murdock chỉ ra rằng, sau cùng, việc dùng điện thoại cũng mang lại nhiều phần thưởng. Điện thoại được thiết kế nhiều chức năng để khiến bạn cảm thấy hài lòng khi giữ chúng bên mình. Điện thoại đem lại cảm giác an toàn là bạn có thể tiếp cận bất kỳ thông tin nào bạn cần vào bất kỳ lúc nào. Khi sử dụng điện thoại, bạn thường xuyên sẽ có được những thông tin có giá trị và nối kết với những người bạn quan tâm. “Đó là một tiến trình củng cố hành vi ở mọi cấp độ”, Murdock cho biết.

Các chuyên gia còn quan ngại các yếu tố củng cố hành vi của điện thoại thông minh có thể khiến con người quan tâm đến điện thoại của họ nhiều hơn những sự kiện và con người quan trọng trong cuộc sống. “Công nghệ trở thành một hiện tượng quá hấp dẫn, việc nó khiến chúng ta không ngừng bị chi phối không đáng ngạc nhiên chút nào-tuy nhiên, chúng ta đang dần đánh mất thế giới thực tế”, Rosen cho biết. Những tương tác trong thế giới thực cực kỳ quan trọng đối với giống loài xã hội tính của chúng ta. “Dunn cho biết “Các tương tác thật, trực tiếp có liên quan mật thiết đến những ích lợi về cảm xúc”. Trò chuyện qua điện thoại hay truyền hình cũng có những mặt tích cực. Nhưng nếu bạn chỉ đơn thuần lướt Facebook thay vì trò chuyện với người ngồi kế bạn trên một chuyến tàu, hay kiểm tra Instagram thay vì nói chuyện với vợ chồng vào bữa tối, bạn đang đánh mất những lợi ích của việc tương tác thật sự giữa người và người. “Bạn có thể đang đánh mất những cơ hội để có được các liên kết xã hội hay lợi ích về cảm xúc đi kèm.”

Đa phần thời gian khi sử dụng các thiết bị di động, chúng ta giành cho mạng xã hội. Chúng cho phép chúng ta liên kết với người khác thông qua các nền tảng như Facebook hay Twitter. Tuy nhiên, liên kết kỹ thuật số không hoàn toàn giống như liên kết trong đời thực.
TS Ethan Kross, giáo sư tâm lý học tại ĐH Michigan, đang nghiên cứu về mạng xã hội và wellbeing. Ông nhận thấy rằng nếu con người sử dụng mạng xã hội một cách thụ động – chỉ lướt qua những tin mới trên Facebook, đọc những bài đăng của ngừơi khác, tiêu hoá thông tin- họ sẽ có mức wellbeing khá thấp. “Khi chúng ta sử dùng Facebook một cách thụ động, chúng ta sẽ cảm thấy càng ngày càng tệ đi”.
Điều này ngược lại so với những người sử dụng chủ động, những người thường xuyên viết và đăng tải thông tin, tham gia vào các cuộc đối thoại hay bình luận trên bài đăng của người khác. Việc sử dụng chủ động có vẻ không gây nguy hại cho cảm giác hạnh phúc chủ quan, ông cho biết. Tuy vậy, các nghiên cứu hiện tại vẫn đang tranh cãi giữa việc liệu sử dụng chủ động có thật sự làm tăng wellbeing hay chỉ đơn thuần là một yếu tố trung tính. Kross đã mô tả điều này trong một bài tường thuật khác (Social Issues and Policy Review, in press).
Theo Kross, khác biệt nằm ở chỗ việc đơn thuần chỉ tiêu thụ thông tin trên mạng xã hội sẽ khiến cho chúng ta có xu hướng so sánh, hành động dẫn tới cảm giác đố kỵ. Tham gia chủ động vào mạng xã hội, mặt khác, có vẻ làm tăng cảm giác nối kết xã hội.
Tuy nhiên, mối quan hệ giữa mạng xã hội và wellbeing về cảm xúc rất phức tạp. Chúng không phải lúc nào cũng nằm gọn ghẽ trong các hành vi ngoài đời thực.
Ví dụ, Kross cho biết, nghiên cứu cho thấy những người trầm cảm thường ít nhận được sự hỗ trợ từ các mạng lưới xã hội thực tế, họ cũng thường hay nhìn nhận rất chính xác rằng bản thân đang thiếu vắng sự trợ giúp. Tuy nhiên ông cùng TS Jiyoung Park thuộc ĐH Massachusettes và các cộng sự đã chứng minh rằng trong thế giới ảo, những ngừoi có trầm cảm thường nhận được sự hỗ trợ từ bạn bè trên Facebook nhiều hơn những người không có trầm cảm. Tuy nhiên, họ lại hay tin rằng mình ít nhận được sự trợ giúp từ những mối quan hệ trên mạng hơn là các mối quan hệ ngoài đời (Journal of Affective Disorders, 2016).
Phát hiện này tạo cơ sở cho các can thiệp có thể giúp thân chủ tranh thủ những hỗ trợ khả dĩ trên mạng xã hội, Kross nhận định. “Tôi lạc quan tin rằng các mạng xã hội có thể được tận dụng để làm tăng wellbeing.”

Giành lại quyền kiểm soát
Như vậy, sử dụng điện thoại thông minh chưa chắc là tiêu cực hoàn toàn. Điện thoại thông minh có thể làm tăng cảm giác thuộc về và gần gũi với bè bạn. Ví dụ, TS Kate Magsamen-Conrad tại ĐH Bowling Green State University cùng các cộng sự nhận thấy trong số những người có xu hướng giữ kín cuộc sống riêng và thông tin cá nhân, công nghệ có thể giúp họ thúc đẩy các mối quan hệ liên cá nhân và làm tăng mức wellbeing tổng thể. (Computers in Human Behavior, 2014).
Tuy nhiên, trong công nghệ, cũng như nhiều thứ khác, sử dụng điều độ rất quan trọng. “Quan trọng là tranh thủ những lợi ích tối ưu từ công nghệ nhưng đồng thời đảm bảo rằng nó không kiểm soát bạn”, Rosen cho biết. “Đã đến lúc chúng ta giành lại quyền kiểm soát”.

Quyền kiểm soát đến từ nhiều phía khác nhau. Chúng ta có thể bắt đầu từng bước nhỏ để giảm thiểu những tác hại của việc sử dụng điện thoại thông minh (Xem "Seven ways to overhaul your smartphone use.") Đồng thời, các nhà tâm lý cũng có thể đóng vai trò quan trọng, bằng việc nghiên cứu cũng như đem lại những hỗ trợ chuyên môn cho các thân chủ có khó khăn trong việc ngắt kết nối với điện thoại. […]

Dunn cũng hi vọng rằng các nhà phát triển công nghệ cũng có thể có các tiếp cận hỗ trợ sự chủ động cho ngừoi sử dụng, ví dụ như tạo ra các chương trình giúp việc kiểm soát các loại tin báo và thời gian xuất hiện tin báo trở nên dễ dàng hơn. Bà còn nghĩ đến các cảm biến giúp xác định thời gian một người đang ăn tối hay chơi đùa với con cái, từ đó ngăn các tin báo về những cập nhật mới trên mạng xã hội hay các thông tin không phù hợp vào thừoi điểm trên. “Chúng ta không tiến hoá để bị các tin báo nhồi nhét liên tục. Với điện thoại thông minh, chúng ta đã thay đổi tất cả cách thức chúng ta thực hiện mọi việc suốt tám năm qua”, Dunn chia sẻ.
Tâm lý học có thể giúp cải thiện công nghệ, bà nhận xét – các công ty công nghệ đã bắt đầu gửi những nhà đại diện đến dự các hội thảo về tâm lý để học hỏi từ các nghiên cứu. “Các doanh nghiệp đang lắng nghe và chúng ta cần lên tiếng."

Further reading
Do Online Social Network Sites Make Us Happy? A Critical Review
Verduyn, P., Ybarra, O., Jonides, J., & Kross, E. Social Issues and Policy Review, in press
The Distracted Mind: Ancient Brains in a High-Tech World
Gazzaley, A., & Rosen, L.D. MIT Press, 2016
Is Facebook Creating"iDisorders"? The Link Between Clinical Symptoms of Psychiatric Disorders and Technology Use, Attitudes and Anxiety
Rosen, L.D., Whaling, K., Rab, S., Carrier, L.M., & Cheever, N.A. Computers in Human Behavior, 2013

Nguồn: http://www.apa.org/monitor/2017/03/cover-disconnected.aspx
Dịch: Hành Lang Tâm Lý

Các bài khác có liên quan đến công nghệ và di động trên Hành Lang Tâm Lý

CHỤP HÌNH QUÁ NHIỀU ẢNH HƯỞNG NHƯ THẾ NÀO ĐẾN KÝ ỨC CỦA CHÚNG TA?

Link: http://hanhlangtamly.blogspot.com/2016/02/chup-hinh-qua-nhieu-anh-huong-den-tri-nho.html

INTERNET ẢNH HƯỞNG NHƯ THẾ NÀO TỚI TRI NHỚ CỦA CHÚNG TA?

Link: http://hanhlangtamly.blogspot.com/2016/01/internet-anh-huong-nhu-nao-toi-tri-nho.html

ĐIỆN THOẠI THÔNG MINH CÓ KHIẾN CHÚNG TA TRỞ THÀNH NHỮNG NGƯỜI LƯỜI SUY NGHĨ?

Link: http://hanhlangtamly.blogspot.com/2015/04/dien-thoai-di-dong-tac-hai-tu-duy.html

TÂM LÝ HỌC VỀ FACEBOOK

Link: http://hanhlangtamly.blogspot.com/2015/02/tam-ly-hoc-nguoi-dung-facebook.html

NGHỈ GIỮAGIỜVỚISMARTPHONELÀMTĂNGHẠNHPHÚCCHONHÂNVIÊN



Link: http://hanhlangtamly.blogspot.com/2014/07/nghi-giua-gio-voi-smartphone-lam-tang.html
Read More