Hiển thị các bài đăng có nhãn Tâm lý Sức khỏe. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tâm lý Sức khỏe. Hiển thị tất cả bài đăng

Đối thoại về cái chết

Đây là bài thứ 2 trong series “Đương đầu với sự hữu hạn của cuộc sống”, tập trung vào nỗi sợ chết ở từng độ tuổi và cách để đương đầu với cái chết không thể tránh khỏi ở mỗi người.
Đọc bài trước, NỖI SỢ VỀ CÁI CHẾT ĐẰNG SAU CÁC ÁM ẢNH
http://hanhlangtamly.blogspot.com/2017/07/lo-so-ve-cai-chet-sau-hau-het-cac-am-so.html

Tác giả: Linda Goldman
Giáo sư nghiên cứu về cái chết tại Đại học Cao đẳng King

Xã hội chúng ta có nỗi ám sợ về cái chết, đặc điểm này cực kỳ dễ gây tổn thương khi chúng ta phải giúp trẻ đối mặt với cái chết của người gần gũi trẻ. Người trưởng thành thường cảm thấy không thoải mái khi đề cập về cái chết với trẻ em. Họ có thể ý thức hoặc vô thức ức chế những giọt nước mắt hoặc các cảm xúc khác, giả định rằng mình đang bảo vệ trẻ, những người còn quá nhỏ để có thể hiểu được khái niệm nặng nề này.
Tuy nhiên những cuộc trò chuyện phù hợp lứa tuổi của trẻ về cái chết sẽ cho phép các em bộc lộ những suy nghĩ và cảm nhận vốn không thể tránh khỏi khi một người quen qua đời. Chúng ta có thể giúp trẻ bình thường hóa những điều này tốt nhất thông qua việc hiểu biết về nhận thức của trẻ đối với cái chết ở từng giai đoạn phát triển khác nhau.
Hiểu về cái chết
Khi trẻ em phát triển, sự hiểu biết về cái chết của các em thay đổi và mở rộng dần. Năm 1948, nhà tâm lý học Maria Nagy đã giới thiệu một nghiên cứu tiên phong trong việc tìm ra mối liên hệ giữa độ tuổi và cách hiểu của trẻ về cái chết. Nghiên cứu này trình bày ba giai đoạn riêng biệt.
Trẻ trong độ tuổi từ ba đến năm, theo bà, có xu hướng phủ nhận việc cái chết là quá trình cuối cùng và coi nó như một hành trình mà một người có thể quay trở lại từ đó.
Ở giai đoạn hai, trong độ tuổi từ năm đến chín, trẻ đã hiểu chết là cái kết cuối cùng nhưng vẫn giữ khoảng cách với điều mình hiểu. Trẻ cũng nghĩ rằng nếu chúng lanh lợi khéo léo, chúng có thể lừa cái chết và tránh được nó.
Giai đoạn ba cũng là giai đoạn cuối là khi trẻ vào chín đến mười tuổi. Tại thời điểm này, trẻ đã hiểu rằng cái chết là điều không thể tránh khỏi và nó đến với mọi người, kể cả bản thân chúng.
Nghiên cứu của Nagy rất gần với công trình của nhà tâm lý học lâm sàng Jean Piaget vốn được rất nhiều nhà tâm lý trẻ em và nhà giáo dục sử dụng.
Piaget giải thích sự nhận thức của trẻ qua những giai đoạn phát triển sau:
1/ Giai đoạn giác động (0-2 tuổi): cái chết không tồn tại, không được biết đến, nó chỉ là sự vắng mặt.
2/ Giai đoạn tiền thao tác (2-7 tuổi): Suy nghĩ có tính huyền diệu (magical thinking) và cái tôi trung tâm (hoặc “quy ngã” - từ dùng của Hoàng Hưng trong Sự ra đời trí khôn của trẻ em – Jean Piaget) là những thuộc tính có thể dự đoán trước của sự đau buồn chiếm ưu thế trong giai đoạn này. Tức, trẻ em cảm thấy có trách nhiệm với những gì xảy đến với chúng và với thế giới quanh chúng. Một đứa trẻ năm tuổi Olivia hét lên với người chị Sophie rằng “Em ghét chị! Em ước gì chị chết đi!” và ngày hôm sau Sophie qua đời trong một tai nạn xe hơi, suy nghĩ huyền diệu có thể khiến Olivia nghĩ rằng cô bé là nguyên nhân dẫn đến cái chết của chị mình. Cô bé sau đó có thể cần một lối thoát cho mặc cảm tội lỗi quá lớn của mình.
3/ Giai đoạn thao tác cụ thể (7-12 tuổi): Đây là giai đoạn trung gian, khi mà suy nghĩ của trẻ dần trưởng thành và trở nên logic hơn. Giai đoạn này được đặc trưng bởi sự tò mò, đặc tính này có thể lý giải vì sao trẻ ở độ tuổi này yêu thích đọc sách và xem phim về thây ma và xương xẩu.
4/ Giai đoạn thao tác hình thức (13 tuổi trở lên): Một trẻ vị thành niên nhìn nhận cái chết như là điều gì đó xa xôi, ở tận cuối cuộc đời. Nhưng khi một người quen biết qua đời, các em sẽ tìm kiếm sự giúp đỡ từ những người đồng trang lứa.
Giúp trẻ em xử lý cái chết
Nghiên cứu về việc những trẻ em mất người thân duy trì mối liên hệ với cha mẹ chúng như thế nào sau một năm kể từ khi cha mẹ mất cho thấy, trong số 125 trẻ tham gia nghiên cứu, 92 (74%) trẻ tin rằng cha mẹ đến một nơi gọi là thiên đường.
Những phát hiện này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc giúp trẻ đặt mối quan hệ của các em với người đã khuất trên một góc nhìn mới, hơn là khuyến khích chúng tách mình ra khỏi sự kiện đó. Hỗ trợ trẻ trong việc tái thiết lập với ngừoi cha/mẹ đã qua đời bao gồm các chiến lược nối kết như: xác định vị trí của người quá cố, trải nghiệm với người quá cố, giúp đỡ người quá cố và sử dụng những vật liên kết.
Một ví dụ cho việc duy trì nối kết này là câu chuyện mà cô bé Michelle 11 tuổi đã viết ra cùng với bức tranh Michelle vẽ về thiên đường sau khi mẹ cô bé mất trong một tai nạn xe hơi. Chúng khiến cô bé cảm thấy được an ủi và an toàn vì mình có thể lưu giữ được hình ảnh tích cực về nơi mẹ đang ở. Hình dung của Michelle được minh hoa như sau:
“Ở đó có rất nhiều lâu đài nơi chỉ những người vĩ đại mới được sống, như mẹ mình… Mẹ mình yêu nhảy múa. Mình nghĩ bà đang nhảy trên thiên đường.”
Người trưởng thành có thể hỗ trợ trẻ em mất người thân theo một mô hình chung. Đầu tiên, họ nên nói với trẻ sự thật về cái chết, có cân nhắc tới giai đoạn phát triển và khả năng hiểu của trẻ. Có thể sử dụng những câu như: “Thông thường người ta chết khi họ đã rất rất già hoặc bệnh rất nặng, hoặc khi cơ thể bị thương quá nặng mà các bác sĩ và bệnh viện không thể giúp được nữa, và cơ thể người đó sẽ ngừng hoạt động.”
Khi đề cập với những trẻ còn quá nhỏ, việc dùng ngôn ngữ và hình ảnh cụ thể sẽ rất hữu dụng. Bên cạnh đó, nên tránh việc sử dụng lối nói trại đi quá quen thuộc vì nó có thể ngăn cản quá trình đau buồn. Nếu chúng ta bảo với bé Johnny rằng ông nội phải đi rất xa, cậu bé có thể tưởng tượng rằng ông nội sẽ trở lại hoặc hỏi tại sao ông không chào tạm biệt.
Thứ hai, chúng ta cần phải để trẻ nhận ra mọi người đang than khóc, đưa trẻ đến đám tang và lễ tưởng niệm. Nghiên cứu chỉ ra việc tham gia lễ tanggiúp trẻ chấp nhận cái chết và tưởng nhớ cha hoặc mẹ đã mất của mình.
Việc để ý đến những dấu hiệu thường thấy ở những trẻ có đau buồn cũng sẽ rất hữu ích, cụ thể như: trẻ mong muốn trông có vẻ bình thường, kể và hay kể lại câu chuyện của mình, nói về người thân yêu đã khuất ở thì hiện tại và thường lo lắng cho sức khỏe của bản thân hoặc của người khác.
Người trưởng thành có thể khuyến khích trẻ em sử dụng các nghi thức để đương đầu với đau buồn. Các em có thể cầu nguyện, thả bong bóng, hát một bài hát, trồng một bông hoa, hoặc viết một bài thơ. Trẻ em đang đau buồn có thể bộc lộ bản thân mình thông qua những quyển sách kí ức, những hộp đựng kí ức, hình ảnh và cả những email kí ức.
Cả trẻ nữ và nam đều có thể có khả năng ngôn ngữ giới hạn cho việc chia sẻ cảm xúc. Đồng thời, các em cũng chỉ có một năng lực cảm xúc giới hạn để chịu đựng nỗi đau mất mát, song các em có thể giao tiếp những cảm xúc, mong ước và nỗi sợ của mình thông qua trò chơi. Trị liệu trò chơi (play therapy) có thể bao gồm việc sử dụng trí tưởng tượng và tương tác với những đồ chơi hóa thân diễn kịch. Một chiếc điện thoại đồ chơi có thể khuyến khích một cuộc đối thoại của trẻ với người thương yêu đã khuất.
Nỗi sầu khổ và mất mát thời thơ ấu bao trùm lên hàng loạt vấn đề đời sống nhưng chúng ta có thể mang lại sức mạnh cho trẻ bằng việc sử dụng những ngôn ngữ phù hợp với lứa tuổi và cung cấp những can thiệp giúp khơi mở hành trình khám phá và trao đổi về xúc cảm trước những đau buồn.

LINK:https://theconversation.com/adults-can-help-children-cope-with-death-by-understanding-how-they-process-it-58057

Dịch: A.T – Hành Lang Tâm Lý


Read More
Làm sao để ứng dụng kiến thức tâm lý?
Ngày nay, những cha mẹ mong muốn con mình có được sự phát triển trí tuệ tôt nhất thường tìm kiếm các ứng dụng kĩ thuật số về giáo dục, các chiến lược và chương trình nuôi dạy con dựa trên “não bộ”, cùng hằng hà sa số các phim ảnh, đồ chơi, các loại sản phầm khác nhau được thiết kế dựa trên những nghiên cứu mới nhất về học tập và phát triển não bộ.
Tuy nhiên, hai thành viên và cộng tác viên lâu năm của Hiệp hội Khoa học Tâm lý Kathy Hirsh-Pasek (ĐH Temple) và Roberta Golinkoff (ĐH Delaware) cho biết, hiện nay, các sản phẩm trên dường như không có mối liên hệ trực tiếp nào đến các nghiên cứu khoa học thật sự. Mặc cho một sô công ty có thuyết phục các bạn ra sao, không có bằng chứng nào cho thấy con cái bạn được hưởng lợi từ các sản phẩm này.
Vấn đề, theo Hirsh-Pasek và Golinkoff nhận định, nằm ở chỗ chính thị trường đã trở thành phương tiện qua đó đa số công chúng- bao gồm cha mẹ, các nhà giáo dục hay cả người làm chính sách- học biết về những bước tiến mới nhất của ngành “khoa học” về phát triển, tuy nhiên không phải tất cả đều mang tính khoa học. Để giải quyết vấn đề này, các nhà nghiên cứu cần trở nên tích cực hơn trong việc mang khoa học dưới con mắt của họ đến với công chúng.
Hirsh-Pasek và Golinkoff, cả hai đều được trao giải thưởng APS James McKeen Cattell Fellow Award vào năm 2015, chứng minh việc tập trung vào “nghiên cứu lấy việc sử dụng làm trọng tâm” (use-inspired research) có thể giúp chúng ta vượt qua ranh giới truyền thống giữa khoa học cơ bản và nghiên cứu ứng dụng, giúp tạo ra những ảnh hưởng khoa học có ý nghĩa.
Việc trộn lẫn khoa học cơ bản và khoa học ứng dụng vay mượn khung làm việc được nhà khoa học chính trị Donald Stokes đặt ra từ trước. Hirsh-Pasek and Golinkoff liệt kê hai khía cạnh mô tả cách thức họ tiếp cận: đi tìm cách hiểu căn bản và việc đưa vào sử dụng.
Một số các nhà khoa học nổi tiếng, bao gồm vật lý gia Niels Bohr, nhà vật lý và hoá học Marie Curie, cùng nhà tâm lý Edward Titchener, là những ví dụ tiêu biểu cho việc tập trung vào khoa học căn bản, theo đuổi việc nâng cao hiểu biết của chúng ta về thế giới. Họ không bận tâm – thậm chí tích cực từ chối- suy nghĩ về việc những phát hiện của họ sẽ được sử dụng ra sao.
Tuy nhiên, nhiều nhà khoa học khác lại theo đuổi các nghiên cứu hướng đến việc vừa chứng minh các lý thuyết căn bản và vừa đưa ra những hiểu biết về thế giới thực tế, tiêu biểu bao gồm nhà hoá học và vi sinh học Louis Pasteur, nhà phẫu thuật Virginia Apgar, và nhà tâm lý phát triển Urie Bronfenbrenner.
Trào lưu này, nơi nghiên cứu cơ bản và ứng dụng gặp nhau, là miền đất kì bí với nhiều nhà nghiên cứu. Tuy vậy, Hirsh-Pasek và Golinkoff đã đi theo con đường của một nghiên cứu nổi tiếng về phát triển ngôn ngữ ở trẻ em.
Năm 1995, Betty Hart và Todd Risley đã công bố phát hiện cho rằng những trẻ có ba mẹ được nhận trợ cấp xã hội trung bình sẽ tiếp xúc với số lượng chữ ít hơn ba lần so với những trẻ có ba mẹ có công việc chuyên môn. Suốt thời thơ ấu, trẻ có hoàn cảnh khó khăn sẽ nghe 30 triệu chữ ít hơn so với những trẻ có hoàn cảnh tích cực hơn. Điều này làm hạn chế vốn từ vựng và có thể ảnh hưởng tới khả năng viết và hiểu ngữ nghĩa.

Ý tưởng về “khoảng cách 30 triệu chữ” gây hoang mang cho các nhà nghiên cứu, các nhà giáo dục và cả những ngừoi làm luật. Suy nghĩ cho rằng có hay không chất lượng ngôn ngữ cũng quan trọng không kém đối với sự phát triển ngôn ngữ của trẻ khiến Hart, Risley và những nhà nghiên cứu khác trở nên bối rối.

Dựa trên những phát hiện trước, Hirsh-Pasek và Golinkoff quyết định đi tìm câu trả lời cho câu hỏi: Liệu số lượng chữ trẻ nghe có phải là tất cả?
Chất lượng hơn số lượng

Từ cơ sở dữ liệu lớn được thu thập như một phần của Nghiên cứu về Chăm sóc ban đầu và Phát triển Thanh Thiếu niên thuộc Viện Quốc gia về Sức khoẻ Trẻ em và Phát triển Con người Eunice Kennedy Shriver, Hirsh-Pasek, Golinkoff, và cộng sự đã phân tích dữ liệu từ 60 trẻ thuộc gia đình thu nhập thấp. Nhóm nghiên cứu chia trẻ thành ba nhóm dựa trên một số thang đo về khả năng ngôn ngữ nhằm tìm câu trả lời cho câu hỏi: Số lượng và chất lượng tương tác cha mẹ-con cái vào lúc 2 tuổi ảnh hưởng như thế nào đến khả năng ngôn ngữ của trẻ khi lên 3?

Kết quả rất cụ thể: Chất lượng rất quan trọng. Cả ba thang đo chất lượng tương tác chiếm tới 16% ảnh hưởng đối với điểm số ngôn ngữ của trẻ vào một năm sau, trong đó, khu vực giao giữa chất lượng và số lượng chiếm 10% ảnh hưởng. Số lượng ngôn ngữ khi đứng một mình chỉ chiếm 1% trong điểm số ngôn ngữ của trẻ.

Trong các nghiên cứu sau đó, các nhà nghiên cứu nhận thấy mối quan hệ cha mẹ-con cái rất quan trọng đối với khả năng học tập của trẻ thông qua TV và video chat với phụ huynh. Kết quả nghiên cứu cho thấy những gián đoạn trong giao tiếp giữa cha mẹ và con cái, như chuông điện thoại, cũng có thể ảnh hưởng đến khả năng học tập của trẻ.

Tổng hợp lại, nghiên cứu trên kết hợp với các phát hiện của Erica Cartmill, Meredith L. Rowe, Susan Goldin-Meadow và các nhà khoa học khác đã làm rõ thêm về hiện tượng khoảng cách 30 triệu chữ. Trong đó nhấn mạnh việc khoảng cách trên không thể bị san lấp bằng cách đơn thuần cho trẻ tiếp xúc với số lượng lớn từ ngữ.

 

Tiếp cận, tiêu hoá và sử dụng

Nghiên cứu lấy việc sử dụng làm trọng tâm đã đưa Hirsh-Pasek và Golinkoff đến những phát hiện quan trọng. Tuy nhiên các nhà nghiên cứu tâm lý biết rằng họ vẫn cần phải đi xa hơn nữa, vượt qua mô hình của Pasteur và Bronfenbrenner để diễn dịch các phát hiện thành “khoa học dễ tiêu hoá” mà công chúng có thể tiếp cận, xử lý và sử dụng.
Theo các nhà nghiên cứu, một cách để tạo ra nền khoa học dễ tiếp thu là đưa ra các nguyên tắc chung rút ra từ cơ sở dữ liệu của lĩnh vực đó. Tập trung vào các nguyên tắc chính cho phép các nhà khoa học xây dựng các sổ tay hướng dẫn dựa trên bằng chứng ứng dụng được cho tất cả các đặc điểm dân số và các nền văn hoá.
Khi chia sẻ công trình của mình, Golinkoff và Hirsh-Pasek tập trung vào việc diễn dịch các nghiên cứu của họ thành các kiến thức khoa học dễ tiếp thu thông qua việc truyền tải toàn bộ những trải nghiệm hình thành kiến thức của mình.
Ví dụ, từ chính nghiên cứu về giao tiếp cha mẹ-con cái của mình, các nhà khoa học mong muốn tìm hiểu xem làm sao để tăng cả số lượng và chất lượng tương tác trong môi trường tự nhiên, thường nhật. Nhóm nghiên cứu chi $60 để in các biểu ngữ có ghi các thông điệp như “Rau củ ưa thích của bạn là gì?” và “Liệu bạn có thể tìm mua một quả táo khác?”. Một số ngày, nhóm nghiên cứu sẽ đặt các biển báo trên trong các siêu thị, biến các cửa hàng thành phòng thực nghiệm tự nhiên của họ.
Các “can thiệp” ít tốn kém này đem đến những kết quả bất ngờ: Trong các siêu thị ở các khu vực có thu nhập thấp, các nhà nghiên cứu nhận thấy tương tác giữa cha mẹ và con cái tăng 33% trong những ngày các biển hiệu xuất hiện.
Năm 2010, nhóm nghiên cứu và các cộng sự tập trung 50000 cha mẹ và trẻ em tới Ultimate Block Party ở Công viên Trung tâm New York. Với sự hỗ trợ của Quỹ Khoa học Quốc gia, nhóm nghiên cứu thiết kế 28 hoạt động được các nhà khoa học chấp thuận tập trung đánh vào phát triển các khả năng nhận thức khác nhau, bao gồm học tập không gian, chức năng điều hành, ngôn ngữ và toán học.

Trong khi các sáng kiếm nhắm tới việc ứng dụng khoa học giáo dục vào môi trường thực tế thường tập trung chủ yếu vào cải cách nhà trường, Hirsh-Pasek và Golinkoff nhấn mạnh rằng các cơ hội đem khoa học về tâm lý phát triển vào đời sống thường nhật cần có quy mô rộng lớn hơn nhiều.

Dự án mới nhất của họ, Không gian Tư duy Đô thị, tập trung vào tạo nên các thành phố “thông minh”. Cả hai hợp tác với kiến trúc sư Itai Palti để tìm hiểu cách đưa khoa học về học tập vào từng cấu trúc nhỏ nhất của đô thị, từ ngọn đèn đường cho tới từng trạm xe buýt.
“Nhiều người trong số chúng ta (các nhà khoa học) ngần ngại đưa các phát hiện của mình vào thị trường ý tưởng vì chúng ta được đào tạo để luôn hoài nghi. Chúng ta muốn chạy thực nghiệm này đến đối chứng khác”, Golinkoff chia sẻ. “Tuy nhiên, dựa trên những dữ liệu vững chắc khác nhau, chúng ta thật sự biết rất nhiều điều có thể được dùng để giúp ích cho công chúng”. Golinkoff nói thêm “Thách thức của tất cả chúng ta là làm sao để thoát khỏi căn phòng của Pasteur và giúp các gia đình, các nhà làm luật, các nhà giáo dục hiểu được những kết quả nghiên cứu tuyệt vời mà chúng ta làm ra.”

References

Hirsh-Pasek, K., Zosh, J. M., Michnick Golinkoff, R., Gray, J. H., Robb, M. B., & Kaufman, J. (2015). Putting education in “educational” apps: Lessons from the science of learning. Psychological Science in the Public Interest, 16, 3–34. doi:10.1177/1529100615569721

Hirsh-Pasek, K., Adamson, L. B., Bakeman, R., Tresch Owen, M., Michnick Golinkoff, R., Pace, A., … Suma, K. (2015). The contribution of early communication quality to low-income children’s language success. Psychological Science, 26, 1071–1083. doi:10.1177/0956797615581493
March 31, 2016

Nguồn: http://www.psychologicalscience.org/observer/transcending-traditional-boundaries-to-create-edible-science#.WWSnHhP5iAw


Dịch: Hành Lang Tâm Lý
Read More
Làm sao đối mặt với cái chết

Đây là bài đầu tiên của series “Đương đầu với sự hữu hạn của cuộc sống”. Xuyên suốt series là những bài viết về nỗi sợ cái chết, sợ sự mất mát ở từng độ tuổi và cách để đối diện, đương đầu với cái chết không thể tránh khỏi ở mỗi người. Bài thứ 2 của series sẽ nói về cách giúp trẻ nhận thức, hiểu và thích nghi được dần với cái chết ở một người.

Tác giả
·      Lisa Iverach: Hợp tác danh dự tại khoa Tâm lý, Đại học Macquarie và Nghiên cứu sinh tại University of Sydney
·      Rachel Menzies: Ứng viên tiến sĩ Tâm lý Lâm sàng tại đại học Sydney
·      Ross Menzies: Phó giáo sư của đại học Sydney


Nhận thức được sự hữu hạn của đời sống là một phần trong sự tồn tại của con người. Với tư cách là một tác giả và là một nhà triết học hiện sinh, Irvin Yalom từng nói, chúng ta “sẽ mãi bị ám ảnh bởi việc biết rằng chúng ta sẽ luôn theo trình tự lớn lên, nở rộ - đỉnh cao, và không thể tránh khỏi - xuống dốc và chết.”
Ngày càng có nhiều nghiên cứu tìm hiểu nỗi lo lắng quá mức về những gì cái chết, và sự mơ hồ về thời điểm nó xảy ra, gây ra cho chúng ta. Một học thuyết tâm lý xã hội, được gọi là TMT “Terror management theory – Thuyết kiểm soát sự khiếp sợ”, là một cách giúp chúng ta hiểu nỗi lo lắng trên ảnh hưởng đến hành vi cùng cảm thức bản thân như thế nào.
Cơ chế phòng vệ
Theo học thuyết này, chúng ta quản lý nỗi sợ chết của mình bằng cách tạo ra cảm giác trường tồn và ý nghĩa cho cuộc sống. Chúng ta tập trung vào những thành tích cá nhân và thành tựu của những người chúng ta thương yêu; chúng ta chụp vô số hình ảnh nhằm kéo dài ký ức; chúng ta cũng có thể đến nhà thờ và tin vào cuộc sống ở kiếp sau.
Những hành vi này làm tăng giá trị của bản thân chúng ta và giúp ta có được cảm giác mạnh mẽ khi đối diện với cái chết. Tuy nhiên với một số người, những giai đoạn stress hoặc các mối đe dọa đối với sức khỏe của họ, hay của những người thân có thể dẫn tới những cơ chế đương đầu bệnh lý và kém hiệu quả.
Những người này sẽ hướng nỗi sợ chết của họ sang mối đe dọa nào nhỏ và dễ kiểm soát hơn, ví dụ như nhện hoặc vi khuẩn. Những ám sợ này nhìn chung có vẻ an toàn và nằm trong khả năng kiểm soát hơn là nỗi sợ về cái chết.
Điều này hợp lý vì khi chúng ta nhìn kỹ vào các triệu chứng của một vài rối loạn có liên quan đến lo lắng, chủ đề cái chết hiện lên khá rõ.
Khi một đứa trẻ trải nghiệm rối loạn lo âu chia cách, chúng thường gắn sự khiếp sợ mất mát một hình tượng gắn bó quan trọng trong cuộc sống - như cha mẹ hoặc thành viên trong gia đình- với những mối đe doạ hay thảm kịch gây ra bởi tai nạn giao thông, thiên tai hoặc bệnh tật hiểm nghèo.
Người có hành vi hay kiểm tra thái quá sẽ liên tục kiểm tra ổ điện, bếp lò, ổ khóa nhằm nỗ lực ngăn chặn các mối nguy hiểm hay chết chóc. Người có chứng rửa tay cưỡng chế thường có mối bận tâm với các bệnh mạn tính và nguy hiểm đến tính mạng.
Người có rối loạn hoảng loạn thường xuyên phải ghé bác sĩ vì họ sợ mình sẽ chết do đau tim bất cứ lúc nào. Trong khi đó, người có các rối loạn về triệu chứng tâm thể, kể cả những người được chẩn đoán với rối loạn hay nghi ngờ mình mang bệnh nào đó, sẽ thường xuyên đề nghị được kiểm tra sức khoẻ và chụp quét toàn thân nhằm xác định các bệnh nghiêm trọng.
Cuối cùng là các ám sợ thường được mô tả là gắn với nỗi sợ thái quá trước độ cao, nhện, rắn, hoặc máu – tất cả đều gắn kết với cái chết. Các phản ứng ám sợ khi nhìn thấy nhện, ví dụ, thường bao gồm hành động như nhảy, la hét và run rẩy. Một số nhà nghiên cứu cho rằng, các hành động trên thực ra đại diện cho các phản ứng hợp lý khi đối diện trước mối đe dọa lớn hơn, như nhìn thấy một người mang theo vũ khí.
Cái chết tiềm ẩn
Các bằng chứng cho giả thuyết TMT xuất phát từ những nghiên cứu chứng minh rằng lo lắng về cái chết có thể làm tăng các phản ứng mang tính lo âu và ám sợ.
Những nghiên cứu này dùng kĩ thuật nổi tiếng “Mortality salience induction – Dẫn dắt vào sự hạn hữu của cuộc sống” để xem xét nỗi lo âu về cái chết ở những người có rối loạn lo âu. Kĩ thuật này yêu cầu người tham gia viết lại những cảm xúc trỗi dậy khi họ nghĩ về cái chết của chính mình, đồng thời ghi lại chi tiết hình dung của họ những gì sẽ xảy ra khi họ hấp hối và qua đời.
Ám sợ nhện khi đi kèm với kĩ thuật trên, khi so với ám sợ không đi kèm việc nhắc nhớ về cái chết, sẽ tạo phản ứng mạnh hơn khi nhìn thấy nhện ví dụ như tránh né việc nhìn vào hình ảnh có liên quan tới nhện. Người rửa tay thái quá cũng sẽ dành nhiều thời gian hơn để rửa tay và dùng nhiều khăn giấy hơn khi bị kích thích với cái chết.
Tương tự như vậy, người có ám sợ xã hội mất nhiều thời gian hơn để tham gia tương tác với bên ngoài. Sau khi được nhắc về cái chết, họ sẽ đánh giá những khuôn mặt hạnh phúc cũng như giận dữ mang tính đe dọa nhiều hơn – vì chúng biểu thị sự đánh giá- thay vì chỉ là những khuôn mặt trung tính.
Vậy nỗi sợ chết có bình thường hay không?
Khi hiểu được rằng chúng ta rồi cũng sẽ chết ở một thời điểm nào đó, lo âu về cái chết sẽ chỉ đơn giản là một trải nghiệm thường gặp của cuộc đời con người. Với nhiều người trong số chúng ta, nghĩ về cái chết có thể khơi gợi các nỗi sợ chia ly, mất mát, đau đớn, cam chịu và lo âu khi phải bỏ người chúng ta yêu thương lại phía sau.
Theo thuyết TMT, thật ra nỗi sợ này có sức mạnh để khích lệ ta sống một cuộc đời trọn vẹn. Nó khuyến khích ta trân trọng những người ta yêu thương, tạo nên những kỉ niệm lâu dài, theo đuổi niềm hi vọng và những ước mơ, đồng thời khơi phá những tiềm năng nơi bản thân.
Nỗi sợ chết chỉ trở nên bất thường khi nó là nền tảng tạo nên những suy nghĩ, hành vi bệnh lý ảnh hưởng tới đời sống thường ngày. Nhiều người ám ảnh thái quá việc rửa tay hay kiểm tra sẽ dành phần lớn thời gian trong ngày để thực hiện những hành vi mang tính nghi thức được tạo ra để làm giảm sự đe doạ từ bụi bẩn, vi khuẩn, lửa, đột nhập hoặc bất kỳ mối nguy nào có thể làm hại họ cùng người thân.
Tương tự, người với các rối loạn ám sợ có thể làm mọi cách để tránh né những gì họ sợ và phản ứng thái quá, đau đớn khi phải đối diện với nó. Khi suy nghĩ và hành vi dẫn đến khiếm khuyết chức năng, lo âu không còn được nhìn nhận là bình thường nữa.
Điều trị cho các rối loạn khác nhau, ví như liệu pháp nhận thức hành vi, cần kết hợp với nhiều phương pháp mới để đề cập trực tiếp tới lo âu về cái chết. Nếu thiếu đi những hướng tiếp cận mới, hình ảnh về cái chết sẽ mãi ám ảnh họ trong suốt cuộc đời, cho tới tận đến khi mọi chuyện đã quá muộn màng.
Link: https://theconversation.com/fear-of-death-underlies-most-of-our-phobias-57057
Dịch A.T-Hành Lang Tâm Lý







Read More