Hiển thị các bài đăng có nhãn Tâm lý Nhận thức. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tâm lý Nhận thức. Hiển thị tất cả bài đăng
Lợi ích của lo âu

ERIC W. DOLAN
  July 8, 2017
Đối với một số người, môi trường áp lực cao có thể đem đến nhiều thuận lợi hơn là trở ngại. Theo một nghiên cứu mới công bố trên Journal of Individual Differences , một số cá nhân gặp lo âu có thể sử dụng trải nghiệm đó như động lực thúc đẩy bản thân.
Các nghiên cứu trước đây phát hiện lo âu có thể gây hại cho trí nhớ và khả năng chú ý. Tuy nhiên, nghiên cứu mới cho thấy cách chúng ta trải nghiệm và đáp ứng với lo âu còn ảnh hưởng đến kết quả học tập và công việc.
 “Tôi có ấn tượng rằng nhiều nghiên cứu tổng quan trong tâm lý chỉ tập trung vào việc điều chỉnh cảm xúc theo hướng tích cực (hedonic emotion regulation), hay nói cách khác, tập trung vào khi con người nỗ lực để được hạnh phúc,” Juliane Strack, đồng tác giả nghiên cứu cho biết. “Tuy nhiên, tôi quan sát thấy nhiều trường hợp con người lại có vẻ thăng tiến nhờ vào stress – trạng thái dễ gợi lên những cảm xúc tiêu cực như lo lắng, giận dữ. Điều này khiến tôi tìm hiểu khái niệm về việc điều chỉnh cảm xúc theo hướng phương tiện (instrumental emotion regulation) (khi chúng ta cố gắng duy trì hoặc cố gắng có được những cảm xúc giúp chúng ta đạt được mục tiêu; những cảm xúc này có thể mang tính tiêu cực, như lo âu trong các tình huống nguy hiểm) cũng như về “stress có lợi” (stress tích cực).
Nghiên cứu gồm 3 phần tiến hành khảo sát xu hướng sử dụng lo âu để tạo động lực cá nhân trên 194 người Đức, 159 sinh viên đại học tại Ba Lan và 270 nhà báo Đức. Những người có mức điểm cao hơn trong thang đo động lực lo âu (anxiety motivation) có khuynh hướng đồng ý với các phát biểu như “cảm giác lo lắng về deadline giúp tôi hoàn thành công việc đúng thời hạn” và “lo lắng về các mục tiêu giúp tôi tập trung vào chúng”.
Các nhà nghiên cứu nhận thấy các sinh viên có lo âu với mức động lực lo âu cao thường có điểm số cao hơn những sinh viên lo âu nhưng có mức động lực lo âu thấp. Tương tự, các nhà báo hay lo lắng có mức điểm cao sẽ thường cho thấy mức hài lòng trong công việc cao hơn nhóm có mức điểm thấp. Điều này đặc biệt đúng với những cá nhân hiểu rõ cảm xúc của bản thân.
Nói cách khác, mối liên kết điển hình giữa lo âu và các kết quả tiêu cực dường như bị phá vỡ nơi những cá nhân có mức động lực lo âu cao. “Sử dụng lo lắng như nguồn động lực có vẻ giúp bù đắp lại các hệ quả tiêu cực của chính lo âu,” Strack và cộng sự viết trong nghiên cứu. 
“Tôi hy vọng rằng con người có thể hiểu được mặt tích cực của các cảm xúc tiêu cực, đặc biệt là  lo âu, cảm xúc mà nhiều người cố kiềm nén hoặc né tránh,” Strack cho biết trên PsyPost. “Chúng tôi nhận thấy trong những nghiên cứu này lo âu thực sự có thể cho chúng ta nhiều năng lượng và sự tập trung. Nói cách khác, nhiều người sử dụng lo lắng để thúc đẩy chính mình, chúng tôi tạm gọi là ‘động lực lo âu’.”
Nghiên cứu vẫn có một số hạn chế. “Vì các nghiên cứu này chỉ dựa trên kết quả khảo sát chủ quan, các nghiên cứu trong tương lai có thể  tìm hiểu khái niệm về động lực lo âu trong điều kiện đánh giá hiệu quả làm việc hoặc các chỉ báo khách quan khác về động lực và/hoặc hiệu quả công việc,” Strack giải thích.
Nghiên cứu cũng sử dụng phương pháp cắt ngang mô tả, làm hạn chế khả năng các nhà nghiên cứu đưa ra kết luận về nguyên nhân-hệ quả.
“Trong các nghiên cứu khác chúng tôi cũng xem xét xa hơn về khái niệm động lực lo âu và nhận thấy chúng ta rất khác biệt trong cách sử dụng lo âu để thúc đẩy bản thân: một số sử dụng nguồn năng lượng mà lo âu mang lại, trong khi số khác dùng giá trị thông tin mà lo âu mang đến (cảm xúc hoạt động như một hệ thống phản hồi giúp chúng ta điều chỉnh tiến trình đi đến mục tiêu; ví dụ như lo âu có thể báo hiệu cho chúng ta biết các mục tiêu của chúng ta đạng bị đe dọa),” Strack chia sẻ thêm.
“Hơn nữa, động lực lo âu có thể giảm tải một số hậu quả tiêu cực của các tình huống gây căng thẳng: trong điều kiện thực nghiệm cũng như các nghiên cứu chiều dài, chúng tôi quan sát thấy động lực lo âu có thể bảo vệ cá nhân khỏi kiệt sức về cảm xúc (emotional exhaustion), cũng như giúp họ nhìn nhận các nhân tố gây căng thẳng như một thử thách tích cực hơn là những vấn đề mang tính đe dọa.”

Nghiên cứu “Must We Suffer to Succeed? When Anxiety Boosts Motivation and Performance”, đồng tác giả bởi Paulo Lopes, Francisco Esteves và Pablo Fernandez-Berrocal, công bố vào 24/05/2017.
Link nguồn: http://www.psypost.org/2017/07/people-can-use-anxiety-motivate-study-finds-49274
Dịch: S.N-Hành lang Tâm lý
Read More

Đối thoại về cái chết

Đây là bài thứ 2 trong series “Đương đầu với sự hữu hạn của cuộc sống”, tập trung vào nỗi sợ chết ở từng độ tuổi và cách để đương đầu với cái chết không thể tránh khỏi ở mỗi người.
Đọc bài trước, NỖI SỢ VỀ CÁI CHẾT ĐẰNG SAU CÁC ÁM ẢNH
http://hanhlangtamly.blogspot.com/2017/07/lo-so-ve-cai-chet-sau-hau-het-cac-am-so.html

Tác giả: Linda Goldman
Giáo sư nghiên cứu về cái chết tại Đại học Cao đẳng King

Xã hội chúng ta có nỗi ám sợ về cái chết, đặc điểm này cực kỳ dễ gây tổn thương khi chúng ta phải giúp trẻ đối mặt với cái chết của người gần gũi trẻ. Người trưởng thành thường cảm thấy không thoải mái khi đề cập về cái chết với trẻ em. Họ có thể ý thức hoặc vô thức ức chế những giọt nước mắt hoặc các cảm xúc khác, giả định rằng mình đang bảo vệ trẻ, những người còn quá nhỏ để có thể hiểu được khái niệm nặng nề này.
Tuy nhiên những cuộc trò chuyện phù hợp lứa tuổi của trẻ về cái chết sẽ cho phép các em bộc lộ những suy nghĩ và cảm nhận vốn không thể tránh khỏi khi một người quen qua đời. Chúng ta có thể giúp trẻ bình thường hóa những điều này tốt nhất thông qua việc hiểu biết về nhận thức của trẻ đối với cái chết ở từng giai đoạn phát triển khác nhau.
Hiểu về cái chết
Khi trẻ em phát triển, sự hiểu biết về cái chết của các em thay đổi và mở rộng dần. Năm 1948, nhà tâm lý học Maria Nagy đã giới thiệu một nghiên cứu tiên phong trong việc tìm ra mối liên hệ giữa độ tuổi và cách hiểu của trẻ về cái chết. Nghiên cứu này trình bày ba giai đoạn riêng biệt.
Trẻ trong độ tuổi từ ba đến năm, theo bà, có xu hướng phủ nhận việc cái chết là quá trình cuối cùng và coi nó như một hành trình mà một người có thể quay trở lại từ đó.
Ở giai đoạn hai, trong độ tuổi từ năm đến chín, trẻ đã hiểu chết là cái kết cuối cùng nhưng vẫn giữ khoảng cách với điều mình hiểu. Trẻ cũng nghĩ rằng nếu chúng lanh lợi khéo léo, chúng có thể lừa cái chết và tránh được nó.
Giai đoạn ba cũng là giai đoạn cuối là khi trẻ vào chín đến mười tuổi. Tại thời điểm này, trẻ đã hiểu rằng cái chết là điều không thể tránh khỏi và nó đến với mọi người, kể cả bản thân chúng.
Nghiên cứu của Nagy rất gần với công trình của nhà tâm lý học lâm sàng Jean Piaget vốn được rất nhiều nhà tâm lý trẻ em và nhà giáo dục sử dụng.
Piaget giải thích sự nhận thức của trẻ qua những giai đoạn phát triển sau:
1/ Giai đoạn giác động (0-2 tuổi): cái chết không tồn tại, không được biết đến, nó chỉ là sự vắng mặt.
2/ Giai đoạn tiền thao tác (2-7 tuổi): Suy nghĩ có tính huyền diệu (magical thinking) và cái tôi trung tâm (hoặc “quy ngã” - từ dùng của Hoàng Hưng trong Sự ra đời trí khôn của trẻ em – Jean Piaget) là những thuộc tính có thể dự đoán trước của sự đau buồn chiếm ưu thế trong giai đoạn này. Tức, trẻ em cảm thấy có trách nhiệm với những gì xảy đến với chúng và với thế giới quanh chúng. Một đứa trẻ năm tuổi Olivia hét lên với người chị Sophie rằng “Em ghét chị! Em ước gì chị chết đi!” và ngày hôm sau Sophie qua đời trong một tai nạn xe hơi, suy nghĩ huyền diệu có thể khiến Olivia nghĩ rằng cô bé là nguyên nhân dẫn đến cái chết của chị mình. Cô bé sau đó có thể cần một lối thoát cho mặc cảm tội lỗi quá lớn của mình.
3/ Giai đoạn thao tác cụ thể (7-12 tuổi): Đây là giai đoạn trung gian, khi mà suy nghĩ của trẻ dần trưởng thành và trở nên logic hơn. Giai đoạn này được đặc trưng bởi sự tò mò, đặc tính này có thể lý giải vì sao trẻ ở độ tuổi này yêu thích đọc sách và xem phim về thây ma và xương xẩu.
4/ Giai đoạn thao tác hình thức (13 tuổi trở lên): Một trẻ vị thành niên nhìn nhận cái chết như là điều gì đó xa xôi, ở tận cuối cuộc đời. Nhưng khi một người quen biết qua đời, các em sẽ tìm kiếm sự giúp đỡ từ những người đồng trang lứa.
Giúp trẻ em xử lý cái chết
Nghiên cứu về việc những trẻ em mất người thân duy trì mối liên hệ với cha mẹ chúng như thế nào sau một năm kể từ khi cha mẹ mất cho thấy, trong số 125 trẻ tham gia nghiên cứu, 92 (74%) trẻ tin rằng cha mẹ đến một nơi gọi là thiên đường.
Những phát hiện này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc giúp trẻ đặt mối quan hệ của các em với người đã khuất trên một góc nhìn mới, hơn là khuyến khích chúng tách mình ra khỏi sự kiện đó. Hỗ trợ trẻ trong việc tái thiết lập với ngừoi cha/mẹ đã qua đời bao gồm các chiến lược nối kết như: xác định vị trí của người quá cố, trải nghiệm với người quá cố, giúp đỡ người quá cố và sử dụng những vật liên kết.
Một ví dụ cho việc duy trì nối kết này là câu chuyện mà cô bé Michelle 11 tuổi đã viết ra cùng với bức tranh Michelle vẽ về thiên đường sau khi mẹ cô bé mất trong một tai nạn xe hơi. Chúng khiến cô bé cảm thấy được an ủi và an toàn vì mình có thể lưu giữ được hình ảnh tích cực về nơi mẹ đang ở. Hình dung của Michelle được minh hoa như sau:
“Ở đó có rất nhiều lâu đài nơi chỉ những người vĩ đại mới được sống, như mẹ mình… Mẹ mình yêu nhảy múa. Mình nghĩ bà đang nhảy trên thiên đường.”
Người trưởng thành có thể hỗ trợ trẻ em mất người thân theo một mô hình chung. Đầu tiên, họ nên nói với trẻ sự thật về cái chết, có cân nhắc tới giai đoạn phát triển và khả năng hiểu của trẻ. Có thể sử dụng những câu như: “Thông thường người ta chết khi họ đã rất rất già hoặc bệnh rất nặng, hoặc khi cơ thể bị thương quá nặng mà các bác sĩ và bệnh viện không thể giúp được nữa, và cơ thể người đó sẽ ngừng hoạt động.”
Khi đề cập với những trẻ còn quá nhỏ, việc dùng ngôn ngữ và hình ảnh cụ thể sẽ rất hữu dụng. Bên cạnh đó, nên tránh việc sử dụng lối nói trại đi quá quen thuộc vì nó có thể ngăn cản quá trình đau buồn. Nếu chúng ta bảo với bé Johnny rằng ông nội phải đi rất xa, cậu bé có thể tưởng tượng rằng ông nội sẽ trở lại hoặc hỏi tại sao ông không chào tạm biệt.
Thứ hai, chúng ta cần phải để trẻ nhận ra mọi người đang than khóc, đưa trẻ đến đám tang và lễ tưởng niệm. Nghiên cứu chỉ ra việc tham gia lễ tanggiúp trẻ chấp nhận cái chết và tưởng nhớ cha hoặc mẹ đã mất của mình.
Việc để ý đến những dấu hiệu thường thấy ở những trẻ có đau buồn cũng sẽ rất hữu ích, cụ thể như: trẻ mong muốn trông có vẻ bình thường, kể và hay kể lại câu chuyện của mình, nói về người thân yêu đã khuất ở thì hiện tại và thường lo lắng cho sức khỏe của bản thân hoặc của người khác.
Người trưởng thành có thể khuyến khích trẻ em sử dụng các nghi thức để đương đầu với đau buồn. Các em có thể cầu nguyện, thả bong bóng, hát một bài hát, trồng một bông hoa, hoặc viết một bài thơ. Trẻ em đang đau buồn có thể bộc lộ bản thân mình thông qua những quyển sách kí ức, những hộp đựng kí ức, hình ảnh và cả những email kí ức.
Cả trẻ nữ và nam đều có thể có khả năng ngôn ngữ giới hạn cho việc chia sẻ cảm xúc. Đồng thời, các em cũng chỉ có một năng lực cảm xúc giới hạn để chịu đựng nỗi đau mất mát, song các em có thể giao tiếp những cảm xúc, mong ước và nỗi sợ của mình thông qua trò chơi. Trị liệu trò chơi (play therapy) có thể bao gồm việc sử dụng trí tưởng tượng và tương tác với những đồ chơi hóa thân diễn kịch. Một chiếc điện thoại đồ chơi có thể khuyến khích một cuộc đối thoại của trẻ với người thương yêu đã khuất.
Nỗi sầu khổ và mất mát thời thơ ấu bao trùm lên hàng loạt vấn đề đời sống nhưng chúng ta có thể mang lại sức mạnh cho trẻ bằng việc sử dụng những ngôn ngữ phù hợp với lứa tuổi và cung cấp những can thiệp giúp khơi mở hành trình khám phá và trao đổi về xúc cảm trước những đau buồn.

LINK:https://theconversation.com/adults-can-help-children-cope-with-death-by-understanding-how-they-process-it-58057

Dịch: A.T – Hành Lang Tâm Lý


Read More
Làm sao đối mặt với cái chết

Đây là bài đầu tiên của series “Đương đầu với sự hữu hạn của cuộc sống”. Xuyên suốt series là những bài viết về nỗi sợ cái chết, sợ sự mất mát ở từng độ tuổi và cách để đối diện, đương đầu với cái chết không thể tránh khỏi ở mỗi người. Bài thứ 2 của series sẽ nói về cách giúp trẻ nhận thức, hiểu và thích nghi được dần với cái chết ở một người.

Tác giả
·      Lisa Iverach: Hợp tác danh dự tại khoa Tâm lý, Đại học Macquarie và Nghiên cứu sinh tại University of Sydney
·      Rachel Menzies: Ứng viên tiến sĩ Tâm lý Lâm sàng tại đại học Sydney
·      Ross Menzies: Phó giáo sư của đại học Sydney


Nhận thức được sự hữu hạn của đời sống là một phần trong sự tồn tại của con người. Với tư cách là một tác giả và là một nhà triết học hiện sinh, Irvin Yalom từng nói, chúng ta “sẽ mãi bị ám ảnh bởi việc biết rằng chúng ta sẽ luôn theo trình tự lớn lên, nở rộ - đỉnh cao, và không thể tránh khỏi - xuống dốc và chết.”
Ngày càng có nhiều nghiên cứu tìm hiểu nỗi lo lắng quá mức về những gì cái chết, và sự mơ hồ về thời điểm nó xảy ra, gây ra cho chúng ta. Một học thuyết tâm lý xã hội, được gọi là TMT “Terror management theory – Thuyết kiểm soát sự khiếp sợ”, là một cách giúp chúng ta hiểu nỗi lo lắng trên ảnh hưởng đến hành vi cùng cảm thức bản thân như thế nào.
Cơ chế phòng vệ
Theo học thuyết này, chúng ta quản lý nỗi sợ chết của mình bằng cách tạo ra cảm giác trường tồn và ý nghĩa cho cuộc sống. Chúng ta tập trung vào những thành tích cá nhân và thành tựu của những người chúng ta thương yêu; chúng ta chụp vô số hình ảnh nhằm kéo dài ký ức; chúng ta cũng có thể đến nhà thờ và tin vào cuộc sống ở kiếp sau.
Những hành vi này làm tăng giá trị của bản thân chúng ta và giúp ta có được cảm giác mạnh mẽ khi đối diện với cái chết. Tuy nhiên với một số người, những giai đoạn stress hoặc các mối đe dọa đối với sức khỏe của họ, hay của những người thân có thể dẫn tới những cơ chế đương đầu bệnh lý và kém hiệu quả.
Những người này sẽ hướng nỗi sợ chết của họ sang mối đe dọa nào nhỏ và dễ kiểm soát hơn, ví dụ như nhện hoặc vi khuẩn. Những ám sợ này nhìn chung có vẻ an toàn và nằm trong khả năng kiểm soát hơn là nỗi sợ về cái chết.
Điều này hợp lý vì khi chúng ta nhìn kỹ vào các triệu chứng của một vài rối loạn có liên quan đến lo lắng, chủ đề cái chết hiện lên khá rõ.
Khi một đứa trẻ trải nghiệm rối loạn lo âu chia cách, chúng thường gắn sự khiếp sợ mất mát một hình tượng gắn bó quan trọng trong cuộc sống - như cha mẹ hoặc thành viên trong gia đình- với những mối đe doạ hay thảm kịch gây ra bởi tai nạn giao thông, thiên tai hoặc bệnh tật hiểm nghèo.
Người có hành vi hay kiểm tra thái quá sẽ liên tục kiểm tra ổ điện, bếp lò, ổ khóa nhằm nỗ lực ngăn chặn các mối nguy hiểm hay chết chóc. Người có chứng rửa tay cưỡng chế thường có mối bận tâm với các bệnh mạn tính và nguy hiểm đến tính mạng.
Người có rối loạn hoảng loạn thường xuyên phải ghé bác sĩ vì họ sợ mình sẽ chết do đau tim bất cứ lúc nào. Trong khi đó, người có các rối loạn về triệu chứng tâm thể, kể cả những người được chẩn đoán với rối loạn hay nghi ngờ mình mang bệnh nào đó, sẽ thường xuyên đề nghị được kiểm tra sức khoẻ và chụp quét toàn thân nhằm xác định các bệnh nghiêm trọng.
Cuối cùng là các ám sợ thường được mô tả là gắn với nỗi sợ thái quá trước độ cao, nhện, rắn, hoặc máu – tất cả đều gắn kết với cái chết. Các phản ứng ám sợ khi nhìn thấy nhện, ví dụ, thường bao gồm hành động như nhảy, la hét và run rẩy. Một số nhà nghiên cứu cho rằng, các hành động trên thực ra đại diện cho các phản ứng hợp lý khi đối diện trước mối đe dọa lớn hơn, như nhìn thấy một người mang theo vũ khí.
Cái chết tiềm ẩn
Các bằng chứng cho giả thuyết TMT xuất phát từ những nghiên cứu chứng minh rằng lo lắng về cái chết có thể làm tăng các phản ứng mang tính lo âu và ám sợ.
Những nghiên cứu này dùng kĩ thuật nổi tiếng “Mortality salience induction – Dẫn dắt vào sự hạn hữu của cuộc sống” để xem xét nỗi lo âu về cái chết ở những người có rối loạn lo âu. Kĩ thuật này yêu cầu người tham gia viết lại những cảm xúc trỗi dậy khi họ nghĩ về cái chết của chính mình, đồng thời ghi lại chi tiết hình dung của họ những gì sẽ xảy ra khi họ hấp hối và qua đời.
Ám sợ nhện khi đi kèm với kĩ thuật trên, khi so với ám sợ không đi kèm việc nhắc nhớ về cái chết, sẽ tạo phản ứng mạnh hơn khi nhìn thấy nhện ví dụ như tránh né việc nhìn vào hình ảnh có liên quan tới nhện. Người rửa tay thái quá cũng sẽ dành nhiều thời gian hơn để rửa tay và dùng nhiều khăn giấy hơn khi bị kích thích với cái chết.
Tương tự như vậy, người có ám sợ xã hội mất nhiều thời gian hơn để tham gia tương tác với bên ngoài. Sau khi được nhắc về cái chết, họ sẽ đánh giá những khuôn mặt hạnh phúc cũng như giận dữ mang tính đe dọa nhiều hơn – vì chúng biểu thị sự đánh giá- thay vì chỉ là những khuôn mặt trung tính.
Vậy nỗi sợ chết có bình thường hay không?
Khi hiểu được rằng chúng ta rồi cũng sẽ chết ở một thời điểm nào đó, lo âu về cái chết sẽ chỉ đơn giản là một trải nghiệm thường gặp của cuộc đời con người. Với nhiều người trong số chúng ta, nghĩ về cái chết có thể khơi gợi các nỗi sợ chia ly, mất mát, đau đớn, cam chịu và lo âu khi phải bỏ người chúng ta yêu thương lại phía sau.
Theo thuyết TMT, thật ra nỗi sợ này có sức mạnh để khích lệ ta sống một cuộc đời trọn vẹn. Nó khuyến khích ta trân trọng những người ta yêu thương, tạo nên những kỉ niệm lâu dài, theo đuổi niềm hi vọng và những ước mơ, đồng thời khơi phá những tiềm năng nơi bản thân.
Nỗi sợ chết chỉ trở nên bất thường khi nó là nền tảng tạo nên những suy nghĩ, hành vi bệnh lý ảnh hưởng tới đời sống thường ngày. Nhiều người ám ảnh thái quá việc rửa tay hay kiểm tra sẽ dành phần lớn thời gian trong ngày để thực hiện những hành vi mang tính nghi thức được tạo ra để làm giảm sự đe doạ từ bụi bẩn, vi khuẩn, lửa, đột nhập hoặc bất kỳ mối nguy nào có thể làm hại họ cùng người thân.
Tương tự, người với các rối loạn ám sợ có thể làm mọi cách để tránh né những gì họ sợ và phản ứng thái quá, đau đớn khi phải đối diện với nó. Khi suy nghĩ và hành vi dẫn đến khiếm khuyết chức năng, lo âu không còn được nhìn nhận là bình thường nữa.
Điều trị cho các rối loạn khác nhau, ví như liệu pháp nhận thức hành vi, cần kết hợp với nhiều phương pháp mới để đề cập trực tiếp tới lo âu về cái chết. Nếu thiếu đi những hướng tiếp cận mới, hình ảnh về cái chết sẽ mãi ám ảnh họ trong suốt cuộc đời, cho tới tận đến khi mọi chuyện đã quá muộn màng.
Link: https://theconversation.com/fear-of-death-underlies-most-of-our-phobias-57057
Dịch A.T-Hành Lang Tâm Lý







Read More

Làm gì khi phạm sai lầm?
KRISTIN WONG MAY 22, 2017

Dù bạn có thiện chí hay cố gắng tới đâu, trong cuộc đời, không thể tránh khỏi có lúc bạn sẽ mắc sai lầm.
Sai lầm có thể sẽ khó nuốt trôi, vì vậy đôi lúc chúng ta tìm cách lẩn trốn thay vì đối mặt với chúng. Thiên kiến xác nhận (confirmation bias) sẽ xuất hiện, khiến chúng ta chỉ tìm kiếm bằng chứng bảo vệ những điều mà chúng ta tin tưởng. Ví dụ, bạn vừa quẹt xe với một chiếc xe đã có sẵn nhiều vết móp, điều đó mặc nhiên có nghĩa là lỗi nằm ở người tài xế kia.
Các nhà tâm lý gọi đó là hiện tượng xung đột nhận thức (cognitive dissonance)— sự căng thẳng chúng ta cảm nhận khi hai suy nghĩ, niềm tin, ý kiến hay thái độ trái ngược nhau cùng tồn tại. Ví dụ, bạn có thể tin rằng bạn là một người tốt bụng và công tâm, vì vậy một khi lỡ quẹt xe ngừoi khác, bạn sẽ trải nghiệm xung đột về nhận thức. Để đối mặt với nó, bạn sẽ từ chối rằng mình sai lầm và quả quyết rằng người lái xe kia đáng lẽ phải thấy bạn, hay bạn vẫn đang đi đúng luật ngay cả khi thực tế không phải vậy.
“Xung đột nhận thức là những gì chúng ta cảm thấy khi nhận thức về bản thân (self-concept)-tôi là người thông minh, tốt bụng, tôi cho rằng niềm tin đó là đúng đắn- bị đe doạ bởi những bằng chứng cho thấy chúng ta đã làm gì đó không thông minh, làm tổn hại đến người khác, hay một niềm tin nào đó là không đúng”, Carol Tavris, đồng tác giả cuốn sách“Mistakes Were Made (But Not by Me), cho biết.”
Mặt khác, chúng ta có thể phòng vệ bằng cách giải thích biện hộ cho sai lầm của mình. Tâm lý gia Leon Festinger đưa ra thuyết xung đột nhận thức vào những năm 50 khi ông đang nghiên cứu một giáo phái nhỏ tin rằng đĩa bay sẽ cứu họ thoát khỏi ngày tận thế vào ngày 20 tháng 12 năm 1954. Khi công bố nghiên cứu trong cuốn sách “When Prophecy Fails,” ông viết rằng giáo phái trên đã bào chữa cho niềm tin của mình và cho rằng Thượng đế chỉ đơn giản quyết định tha mạng cho các thành viên của giáo phái. Việc cậy dựa vào lời giải thích trên giúp những người trong giáo phái đương đầu với chính xung đột nhận thức của họ.
“Xung đột rất khó chịu và chúng ta bị thúc đẩy để giảm thiểu nó,” Tavis cho biết.
Khi chúng ta xin lỗi vì làm sai, chúng ta phải chấp nhận xung đột này, và điều đó khiến chúng ta khó chịu. Ngược lại, nghiên cứu cho thấy việc bám dính lấy sai lầm lại mang đến cảm giác dễ chịu. Một nghiên cứu đăng trên European Journal of Social Psychology cho thấy những người từ chối xin lỗi sau khi mắc sai lầm thường có mức tự trọng, cảm giác kiểm soát và quyền lực cao hơn những người không từ chối.
“Một cách nào đó, việc xin lỗi đem lại quyền lực cho người được xin lỗi,” Tyler Okimoto, tác giả của nghiên cứu, cho biết. “Ví dụ, tôi xin lỗi vợ có nghĩa là tôi thừa nhận sai lầm của mình; nhưng nó cũng đưa đến cho cô ta quyền lựa chọn liệu cô ấy muốn làm giảm sự xấu hổ của tôi qua việc tha thứ, hay làm tăng sự hổ thẹn bằng cách tiếp tục chì chiết. Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy những người từ chối xin lỗi có trải nghiệm cảm giác quyền lực và kiểm soát cá nhân tăng nhẹ trong thời gian ngắn.”
Cảm giác quyền lực có thể là một lợi ích hấp dẫn ngắn hạn. Tuy nhiên, nó có thể có những hệ quả dài hạn. Từ chối xin lỗi có thể đe doạ “sự tin tưởng mà mối quan hệ được xây dựng trên đó”, Okimoto nhận xét, ông còn cho rằng nó có thể kéo dài mâu thuẫn và khuyến khích sự bực tức hay trả thù.
Theo các chuyên gia, khi bạn từ chối thừa nhận sai lầm, bạn cũng đang ít cởi mở hơn với những phê bình mang tính xây dựng. Những phê bình này có thể giúp bạn rèn luyện kĩ năng, sửa chữa những thói quen tiêu cực và sau cùng, cải thiện bản thân.
“Chúng ta bám dính những hành vi cũ, ngay cả khi những hành vi mới tốt đẹp, khoẻ mạnh và thông minh hơn. Chúng ta bám vào những niềm tin khiến chúng ta tự thất bại quá mức thời gian cho phép,” Tavris chia sẻ. “Và chúng ta khiến vợ chồng, đồng nghiệp và con cái rất, rất khó chịu với chúng ta.”
Một nghiên cứu khác do các nhà nghiên cứu tại Stanford, Carol Dweck và Karina Schumann, cho thấy con người thường sẵn sàng chịu trách nhiệm cho sai lầm nếu họ tin rằng họ có khả năng thay đổi hành vi của mình. Tuy vậy, điều này khó thực hiện hơn chúng ta nghĩ, vậy làm cách nào bạn có thể thay đổi hành vi và học cách chấp nhận sai lầm?
Đầu tiên, bạn cần nhận thấy những xung đột nhận thức đang diễn ra. Tâm trí bạn hoạt động rất tích cực để bảo toàn cảm giác nhân dạng của bạn (sense of identity), cho nên việc nhận ra xung đột nhận thức có cảm giác như thế nào rất hữu dụng. Điển hình, nó được biểu hiện qua việc cảm thấy bối rối, căng thẳng, xấu hổ hay cảm thấy tội lỗi. Những cảm giác đó không nhất thiết có nghĩa là bạn đang làm sai, nhưng bạn ít nhất có thể dùng chúng để nhắc nhở bản thân nên nhìn tình huống bằng một góc nhìn đa chiều và nên đặt câu hỏi khách quan với bản thân rằng liệu bạn có đang làm điều gì có lỗi hay không.
Tương tự, bạn cũng có thể học cách nhận ra những lời biện hộ và lý trí hoá thông thường của bản thân. Hãy nghĩ về một thời điểm bạn làm sai và biết rằng bạn đang phạm lỗi, tuy nhiên hãy thử biện hộ cho nó. Hãy nhớ khi bạn dùng lí trí bảo vệ cho hành vi của mình thì sẽ có cảm giác gì và hãy dùng nó như tín hiệu cảnh báo xung đột nhận thức khi nó xuất hiện vào lần tiếp theo.
Okimoto cũng cho biết nên nhớ rằng người khác thường dễ tha thứ hơn bạn nghĩ. Những nét tính cách như trung thực và khiêm tốn khiến cho bạn trở nên con người hơn và nhờ vậy, trở nên hoà đồng hơn. Bên cạnh đó, khi bạn rõ ràng đã làm sai, việc từ chối xin lỗi sẽ cho thấy mức bạn tin tưởng vào bản thân (self-confidence) khá thấp.
“Nếu với mọi người, rõ ràng bạn đã mắc sai lầm, việc bảo thủ từ chối nó sẽ khiến cho mọi người nhận thấy những khuyết điểm thay vì ưu điểm trong tính cách của bạn.”
Link nguồn: https://www.nytimes.com/2017/05/22/smarter-living/why-its-so-hard-to-admit-youre-wrong.html



Dịch: Hành Lang Tâm Lý
Read More