Hiển thị các bài đăng có nhãn Tâm lý Lâm sàng. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tâm lý Lâm sàng. Hiển thị tất cả bài đăng
Lợi ích của lo âu

ERIC W. DOLAN
  July 8, 2017
Đối với một số người, môi trường áp lực cao có thể đem đến nhiều thuận lợi hơn là trở ngại. Theo một nghiên cứu mới công bố trên Journal of Individual Differences , một số cá nhân gặp lo âu có thể sử dụng trải nghiệm đó như động lực thúc đẩy bản thân.
Các nghiên cứu trước đây phát hiện lo âu có thể gây hại cho trí nhớ và khả năng chú ý. Tuy nhiên, nghiên cứu mới cho thấy cách chúng ta trải nghiệm và đáp ứng với lo âu còn ảnh hưởng đến kết quả học tập và công việc.
 “Tôi có ấn tượng rằng nhiều nghiên cứu tổng quan trong tâm lý chỉ tập trung vào việc điều chỉnh cảm xúc theo hướng tích cực (hedonic emotion regulation), hay nói cách khác, tập trung vào khi con người nỗ lực để được hạnh phúc,” Juliane Strack, đồng tác giả nghiên cứu cho biết. “Tuy nhiên, tôi quan sát thấy nhiều trường hợp con người lại có vẻ thăng tiến nhờ vào stress – trạng thái dễ gợi lên những cảm xúc tiêu cực như lo lắng, giận dữ. Điều này khiến tôi tìm hiểu khái niệm về việc điều chỉnh cảm xúc theo hướng phương tiện (instrumental emotion regulation) (khi chúng ta cố gắng duy trì hoặc cố gắng có được những cảm xúc giúp chúng ta đạt được mục tiêu; những cảm xúc này có thể mang tính tiêu cực, như lo âu trong các tình huống nguy hiểm) cũng như về “stress có lợi” (stress tích cực).
Nghiên cứu gồm 3 phần tiến hành khảo sát xu hướng sử dụng lo âu để tạo động lực cá nhân trên 194 người Đức, 159 sinh viên đại học tại Ba Lan và 270 nhà báo Đức. Những người có mức điểm cao hơn trong thang đo động lực lo âu (anxiety motivation) có khuynh hướng đồng ý với các phát biểu như “cảm giác lo lắng về deadline giúp tôi hoàn thành công việc đúng thời hạn” và “lo lắng về các mục tiêu giúp tôi tập trung vào chúng”.
Các nhà nghiên cứu nhận thấy các sinh viên có lo âu với mức động lực lo âu cao thường có điểm số cao hơn những sinh viên lo âu nhưng có mức động lực lo âu thấp. Tương tự, các nhà báo hay lo lắng có mức điểm cao sẽ thường cho thấy mức hài lòng trong công việc cao hơn nhóm có mức điểm thấp. Điều này đặc biệt đúng với những cá nhân hiểu rõ cảm xúc của bản thân.
Nói cách khác, mối liên kết điển hình giữa lo âu và các kết quả tiêu cực dường như bị phá vỡ nơi những cá nhân có mức động lực lo âu cao. “Sử dụng lo lắng như nguồn động lực có vẻ giúp bù đắp lại các hệ quả tiêu cực của chính lo âu,” Strack và cộng sự viết trong nghiên cứu. 
“Tôi hy vọng rằng con người có thể hiểu được mặt tích cực của các cảm xúc tiêu cực, đặc biệt là  lo âu, cảm xúc mà nhiều người cố kiềm nén hoặc né tránh,” Strack cho biết trên PsyPost. “Chúng tôi nhận thấy trong những nghiên cứu này lo âu thực sự có thể cho chúng ta nhiều năng lượng và sự tập trung. Nói cách khác, nhiều người sử dụng lo lắng để thúc đẩy chính mình, chúng tôi tạm gọi là ‘động lực lo âu’.”
Nghiên cứu vẫn có một số hạn chế. “Vì các nghiên cứu này chỉ dựa trên kết quả khảo sát chủ quan, các nghiên cứu trong tương lai có thể  tìm hiểu khái niệm về động lực lo âu trong điều kiện đánh giá hiệu quả làm việc hoặc các chỉ báo khách quan khác về động lực và/hoặc hiệu quả công việc,” Strack giải thích.
Nghiên cứu cũng sử dụng phương pháp cắt ngang mô tả, làm hạn chế khả năng các nhà nghiên cứu đưa ra kết luận về nguyên nhân-hệ quả.
“Trong các nghiên cứu khác chúng tôi cũng xem xét xa hơn về khái niệm động lực lo âu và nhận thấy chúng ta rất khác biệt trong cách sử dụng lo âu để thúc đẩy bản thân: một số sử dụng nguồn năng lượng mà lo âu mang lại, trong khi số khác dùng giá trị thông tin mà lo âu mang đến (cảm xúc hoạt động như một hệ thống phản hồi giúp chúng ta điều chỉnh tiến trình đi đến mục tiêu; ví dụ như lo âu có thể báo hiệu cho chúng ta biết các mục tiêu của chúng ta đạng bị đe dọa),” Strack chia sẻ thêm.
“Hơn nữa, động lực lo âu có thể giảm tải một số hậu quả tiêu cực của các tình huống gây căng thẳng: trong điều kiện thực nghiệm cũng như các nghiên cứu chiều dài, chúng tôi quan sát thấy động lực lo âu có thể bảo vệ cá nhân khỏi kiệt sức về cảm xúc (emotional exhaustion), cũng như giúp họ nhìn nhận các nhân tố gây căng thẳng như một thử thách tích cực hơn là những vấn đề mang tính đe dọa.”

Nghiên cứu “Must We Suffer to Succeed? When Anxiety Boosts Motivation and Performance”, đồng tác giả bởi Paulo Lopes, Francisco Esteves và Pablo Fernandez-Berrocal, công bố vào 24/05/2017.
Link nguồn: http://www.psypost.org/2017/07/people-can-use-anxiety-motivate-study-finds-49274
Dịch: S.N-Hành lang Tâm lý
Read More
Robert J. Sternberg

Nếu lúc đó tôi biết được những điều tôi đang biết… Nếu tôi có thể làm lại mọi việc…Nếu tôi có thể quay ngược thời gian…
Chúng ta ai cũng từng suy nghĩ thế này: Nếu có một cơ hội khác, tôi sẽ thay đổi điều gì. Liệu tôi có sử dụng thời gian như thế? Tôi có nên bắt đầu/ kết thúc mối quan hệ đó? Tôi có chọn ngành tâm lý? Tôi có nên tiếp tục học cao hơn?
Nếu tôi có thể gửi một lá thư  cho tôi lúc 16 tuổi, tôi sẽ nói gì? Bạn sẽ cho bạn lời khuyên nào để chuẩn bị cho tương lai?


 
Lý thuyết tam giác tình yêu của Steinberg
 Bức thư này là của TS. Robert J. Sternberg, ông nhận bằng Tiến sĩ của ĐH Stanford vào năm 1975 và phần lớn sự nghiệp làm Giáo sư tại ĐH Yale. Sau đó, ông trở thành Trưởng khoa ĐH Tufts, ĐH Bang Oklahoma và là Hiệu trưởng tại ĐH Wyoming. Ông cũng là Nguyên Chủ tịch Hiệp hội Tâm lý Hoa Kỳ. Ông hiện là Giáo sư về Phát triển Con người tại ĐH Cornell. Ông nổi tiếng bởi những nghiên cứu về trí thông minh, tính sáng tạo, trí tuệ, phong cách suy luận, lãnh đạo, đạo đức, tình yêu và lòng thù hận. Ông là người thiết lập lý thuyết ba tầng về trí thông minh và tam giác về tình yêu, đồng thời là người đồng sáng tạo lý thuyết đầu tư sáng tạo.


GỬI TÔI, NHÀ TÂM LÝ TƯƠNG LAI

Gửi Tôi tuổi 16,

Tôi không biết liệu chú có nhận được lá thư này hay không, ít nhất là về khung thời gian, nhưng tôi nghĩ sẽ vẫn cứ thử xem sao. Sau đây là ba lời khuyên mà tôi hy vọng rằng chú sẽ thấy hữu dụng, tốt nhất, càng sớm càng tốt.

1. Đừng đánh giá thấp tầm quan trọng của gia đình và bè bạn.
Chú sẽ sớm tưởng rằng mình sẽ đạt được “sự bất tử” qua công việc của mình, và mục tiêu đó là ý nghĩa của cuộc đời chú. Hoàn toàn sai. Đầu tiên, chỉ có một số ít các nhà tâm lý đạt đến sự bất tử thông qua công việc- có lẽ là Freud, James, Skinner, Piaget, và vài người nữa. Tuy nhiên, đa phần các tâm lý gia sẽ nhanh chóng bị lãng quên ngay khi họ có quyết định nghỉ hưu. Chú sẽ thấy nhiều đồng nghiệp nổi danh của chú tại Yale nghỉ hưu và nhận ra rằng những gì họ còn trong tay chẳng phải là công việc, điều nhanh chóng bị quên lãng,  hay thậm chí bạn bè nơi làm việc, vì đa phần họ vẫn mãi bận bịu tiến thân. Thay vào đó, những gì còn lại, nếu họ có, là gia đình và bạn bè thật sự. Chú sẽ khám phá ra rằng ý nghĩa của cuộc đời chú là làm thế giới trở nên một nơi tốt đẹp hơn, và cách chính yếu chú thực hiện điều đó là qua gia đình chú, đặc biệt là qua năm đứa con xinh đẹp, những đứa con của chúng và qua nhiều thế hệ tiếp theo.

2. Đừng đánh giá quá mức ý nguyện thay đổi nơi mọi người.
Chú sẽ bước vào chuyên ngành nghiên cứu về trí thông minh, trong đó nhiều người tin rằng các nét nhân cách là không thể thay đổi. Chú sẽ tranh luận một cách đúng đắn rằng con người có nhiều khả năng điều chỉnh hơn những gì các lý thuyết gia về trí thông minh nhận định. Thế nhưng, mãi về sau, chú sẽ nhận ra vấn đề chính yếu không nằm ở việc bất khả thay đổi của con người mà lại nằm ở việc họ không sẵn sàng làm vậy. Con người, kể cả chú, sẽ tìm ra đủ mọi lý do để giữ nguyên tình trạng. Họ bám lấy những yếu điểm của mình, tạo ra những câu chuyện khác nhau để lý giải hành động đó, và đối với cá nhân, những điều đó lại là thực tế của họ. Trường học cũng như vậy: Những người tầm thường sẽ dính lấy những thứ tầm thường, nói ra đủ thứ về tài năng không được công nhận của mình, còn những nguời hoàn hảo cũng bấu víu vào những gì họ đã làm trước đây, hy vọng rằng những điều từng khiến họ vĩ đại sẽ tiếp tục phép màu của chúng mặc cho thế giới thay đổi với tốc độ chóng mặt. Ta thường đánh giá cao sự sáng tạo qua câu chữ mà chẳng qua hành động. Vấn đề của các nhà tâm lý không phải là chưa hỗ trợ đủ khả năng thay đổi của con người mà là chưa nâng cao đúng mức sự sẵn sàng hay lòng can đảm để thực hiện.

3. Trí thông minh không phải là tài sản quá quý giá như chú nghĩ.
Như nhiều người khác trong xã hội, chú tin vào sự quan trọng của trí thông minh, dù chí ít chú nhận ra rằng thông minh không chỉ là IQ. Dù vậy, điều thế giới thiếu thốn nhất không phải là trí thông minh mà thay vào đó là sự sáng tạo, lý lẽ, thông thái và những tiêu chuẩn cao trọng về đạo đức. Vậy nên làm ơn, hãy vẫn tiếp tục nghiên cứu của chú, nhưng luôn nhớ rằng điều thế giới cần nhất không chỉ là những người thông minh, mà còn là những người có động lực, sáng tạo, hiểu biết và đạo đức.
Hy vọng chú mau nhận được cánh thư này.
Tôi, tuổi 64.
Link:http://www.gradpsychblog.org/dear-me-future-psychologist-yours-truly-dr-robert-sternberg/#.VCRUSpSSz1b
Dịch: Hành Lang Tâm Lý

Hành Lang Tâm Lý cũng xin gửi đến các bạn SỔ TAY HƯỚNG DẪN APA DÀNH CHO SINH VIÊN CHUYÊN NGÀNH TÂM LÝ HỌC do Hành Lang Tâm lý lược dịch. Tài liệu này được lấy từ trang chủ của Hiệp hội Tâm lý Hoa Kỳ, American  Psychological  Association. 

Tài liệu đề cập đến 5 mục tiêu lớn mà sinh viên học chuyên ngành Tâm lý cần có:
- Kiến thức nền tảng về Tâm lý học
- Tìm tòi khoa học và Tư duy phản biện
- Trách nhiệm đạo đức và xã hội trong Thế giới đa dạng
- Giao tiếp
- Phát triển sự ghiệp

Thiết nghĩ trong điều kiện một số bạn sinh viên đã và đang học ngành Tâm lý còn nhiều hoang mang về những yêu cầu, điều kiện mà một sinh viên tâm lý cần có khi ra trường, tài liệu này (tuy chưa được chuẩn hóa với điều kiện Việt Nam) là một gợi ý hữu ích về các tiêu chí, con đường, mục tiêu mà sinh viên cần theo đuổi.
Link: http://hanhlangtamly.blogspot.com/2014/11/so-tay-huong-dan-apa-danh-cho-sinh-vien.html
Read More
Chất trắng trong não

ROBERTA
 JENKINS  
July19, 2017

Một nghiên cứu mới trên Scientific Reports cho thấy, việc thiếu hụt trong cấu trúc dẫn truyền chất trắng có liên hệ với những ngừoi được chẩn đoán có Rối loạn Nhân cách Chống đối Xã hội (Antisocial personality disorder-ASPD).

Những ngừoi có ASPD thường có khả năng tự kiểm soát kém, hung hăng và lạnh lùng. Những nét nhân cách trên đồng nghĩa với việc họ thường dễ tham gia vào các hoạt động tội phạm nhiều hơn so với dân số chung. Thực tế, 47% tù nhân nam giới được chẩn đoán có ASPD trên khắp thế giới. ASPD thường gặp ở đàn ông hơn phụ nữ, tỉ lệ lần lượt là 3% và 1% được chẩn đoán trên toàn dân số.
Các nghiên cứu cho rằng ASPD có liên hệ với những bất thường trong não bộ, dù vậy, sinh lý bệnh học (pathophysiology) chính xác của rối loạn này vẫn chưa được xác định. Tuy nhiên, việc khiếm khuyết trong cấu trúc của chất trắng được liên hệ tới tính bốc đồng (impulsivity) và hành vi rủi ro (risk-taking behavior) của ASPD.
Nhằm tìm hiểu về cấu trúc vi mô (microstructure)của chất trắng trong ASPD, một nhóm các nhà nghiên cứu đã tìm hiểu trên 20 người có chẩn đoán ASPD và 23 người khoẻ mạnh để làm nhóm đối chứng (control group). Những ngừoi tham gia đều là nam giới và hoàn thành một bài kiểm tra tính bốc đồng cũng như hành vi rủi ro trước khi được chụp MRI nhằm đo lường độ phân tán phân tử nước trong chất trắng.
Nghiên cứu cho thấy khiếm khuyết chất trắng ở các bệnh nhân có ASPD. Một khu vực gây chú ý là bó móc phải (right uncinate fasiculus), đường dẫn chất trắng gắn hệ viền (limbic system) với các khu vực não trán trước (frontal brain). Một phần hệ viền là hạnh nhân (amygdala)có liên hệ với việc hình thành các phản ứng về cảm xúc. Đồng thời, một số khu vực ở thuỳ trán (frontal lobe) được cho rằng hoạt động như tiếng nói của lý trí giúp chúng ta kiểm soát cảm xúc. Vì thế, khiếm khuyết về cấu trúc ở bó móc có thể chịu trách nhiệm cho biểu hiện giảm ức chế hành vi ở ngừoi có ASPD.
Bó móc cũng giúp nối kết các vùng não giúp kiểm soát lý lẽ xã hội và nhận thức cũng như ra quyết định. Thiếu mối liên kết giữa các khu vực này được cho rằng gây ra các vấn đề ở ASPD như đánh giá đạo đức kém, thiếu thấu cảm và dễ hung hăng. Thêm vào đó, các khiếm khuyết cũng được quan sát thấy ở đường dẫn chất trắng giúp kết nối các mạng luới thuỳ đỉnh và thuỳ thái dương, cũng gắn với tính bốc đồng và các hành vi rủi ro.
Nhìn chung, nghiên cứu dựa trên các kết quả từ trước, cho thấy những bất thường về não bộ ở cấu trúc vi mô của chất trắng. Những khiếm khuyết này, cùng với các tác nhân môi trường, có thể tạo nên sự “mất kết nối” gây ra những khiếm khuyết cảm xúc-xã hội thường gặp ở ASPD. Việc hiểu về cấu trúc sinh lý bênh học của ASPD có thể giúp giải mã những cơ chế giải phẫu thần kinh bên dưới tính bốc đồng, hung hăng và tàn nhẫn gắn với ASPD.
Nguồn: http://www.psypost.org/2017/07/antisocial-personality-disorder-linked-impairments-white-matter-microstructure-49349
Link nghiên cứu : https://www.nature.com/articles/srep43002
Dịch: Hành Lang Tâm Lý




Read More

Đối thoại về cái chết

Đây là bài thứ 2 trong series “Đương đầu với sự hữu hạn của cuộc sống”, tập trung vào nỗi sợ chết ở từng độ tuổi và cách để đương đầu với cái chết không thể tránh khỏi ở mỗi người.
Đọc bài trước, NỖI SỢ VỀ CÁI CHẾT ĐẰNG SAU CÁC ÁM ẢNH
http://hanhlangtamly.blogspot.com/2017/07/lo-so-ve-cai-chet-sau-hau-het-cac-am-so.html

Tác giả: Linda Goldman
Giáo sư nghiên cứu về cái chết tại Đại học Cao đẳng King

Xã hội chúng ta có nỗi ám sợ về cái chết, đặc điểm này cực kỳ dễ gây tổn thương khi chúng ta phải giúp trẻ đối mặt với cái chết của người gần gũi trẻ. Người trưởng thành thường cảm thấy không thoải mái khi đề cập về cái chết với trẻ em. Họ có thể ý thức hoặc vô thức ức chế những giọt nước mắt hoặc các cảm xúc khác, giả định rằng mình đang bảo vệ trẻ, những người còn quá nhỏ để có thể hiểu được khái niệm nặng nề này.
Tuy nhiên những cuộc trò chuyện phù hợp lứa tuổi của trẻ về cái chết sẽ cho phép các em bộc lộ những suy nghĩ và cảm nhận vốn không thể tránh khỏi khi một người quen qua đời. Chúng ta có thể giúp trẻ bình thường hóa những điều này tốt nhất thông qua việc hiểu biết về nhận thức của trẻ đối với cái chết ở từng giai đoạn phát triển khác nhau.
Hiểu về cái chết
Khi trẻ em phát triển, sự hiểu biết về cái chết của các em thay đổi và mở rộng dần. Năm 1948, nhà tâm lý học Maria Nagy đã giới thiệu một nghiên cứu tiên phong trong việc tìm ra mối liên hệ giữa độ tuổi và cách hiểu của trẻ về cái chết. Nghiên cứu này trình bày ba giai đoạn riêng biệt.
Trẻ trong độ tuổi từ ba đến năm, theo bà, có xu hướng phủ nhận việc cái chết là quá trình cuối cùng và coi nó như một hành trình mà một người có thể quay trở lại từ đó.
Ở giai đoạn hai, trong độ tuổi từ năm đến chín, trẻ đã hiểu chết là cái kết cuối cùng nhưng vẫn giữ khoảng cách với điều mình hiểu. Trẻ cũng nghĩ rằng nếu chúng lanh lợi khéo léo, chúng có thể lừa cái chết và tránh được nó.
Giai đoạn ba cũng là giai đoạn cuối là khi trẻ vào chín đến mười tuổi. Tại thời điểm này, trẻ đã hiểu rằng cái chết là điều không thể tránh khỏi và nó đến với mọi người, kể cả bản thân chúng.
Nghiên cứu của Nagy rất gần với công trình của nhà tâm lý học lâm sàng Jean Piaget vốn được rất nhiều nhà tâm lý trẻ em và nhà giáo dục sử dụng.
Piaget giải thích sự nhận thức của trẻ qua những giai đoạn phát triển sau:
1/ Giai đoạn giác động (0-2 tuổi): cái chết không tồn tại, không được biết đến, nó chỉ là sự vắng mặt.
2/ Giai đoạn tiền thao tác (2-7 tuổi): Suy nghĩ có tính huyền diệu (magical thinking) và cái tôi trung tâm (hoặc “quy ngã” - từ dùng của Hoàng Hưng trong Sự ra đời trí khôn của trẻ em – Jean Piaget) là những thuộc tính có thể dự đoán trước của sự đau buồn chiếm ưu thế trong giai đoạn này. Tức, trẻ em cảm thấy có trách nhiệm với những gì xảy đến với chúng và với thế giới quanh chúng. Một đứa trẻ năm tuổi Olivia hét lên với người chị Sophie rằng “Em ghét chị! Em ước gì chị chết đi!” và ngày hôm sau Sophie qua đời trong một tai nạn xe hơi, suy nghĩ huyền diệu có thể khiến Olivia nghĩ rằng cô bé là nguyên nhân dẫn đến cái chết của chị mình. Cô bé sau đó có thể cần một lối thoát cho mặc cảm tội lỗi quá lớn của mình.
3/ Giai đoạn thao tác cụ thể (7-12 tuổi): Đây là giai đoạn trung gian, khi mà suy nghĩ của trẻ dần trưởng thành và trở nên logic hơn. Giai đoạn này được đặc trưng bởi sự tò mò, đặc tính này có thể lý giải vì sao trẻ ở độ tuổi này yêu thích đọc sách và xem phim về thây ma và xương xẩu.
4/ Giai đoạn thao tác hình thức (13 tuổi trở lên): Một trẻ vị thành niên nhìn nhận cái chết như là điều gì đó xa xôi, ở tận cuối cuộc đời. Nhưng khi một người quen biết qua đời, các em sẽ tìm kiếm sự giúp đỡ từ những người đồng trang lứa.
Giúp trẻ em xử lý cái chết
Nghiên cứu về việc những trẻ em mất người thân duy trì mối liên hệ với cha mẹ chúng như thế nào sau một năm kể từ khi cha mẹ mất cho thấy, trong số 125 trẻ tham gia nghiên cứu, 92 (74%) trẻ tin rằng cha mẹ đến một nơi gọi là thiên đường.
Những phát hiện này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc giúp trẻ đặt mối quan hệ của các em với người đã khuất trên một góc nhìn mới, hơn là khuyến khích chúng tách mình ra khỏi sự kiện đó. Hỗ trợ trẻ trong việc tái thiết lập với ngừoi cha/mẹ đã qua đời bao gồm các chiến lược nối kết như: xác định vị trí của người quá cố, trải nghiệm với người quá cố, giúp đỡ người quá cố và sử dụng những vật liên kết.
Một ví dụ cho việc duy trì nối kết này là câu chuyện mà cô bé Michelle 11 tuổi đã viết ra cùng với bức tranh Michelle vẽ về thiên đường sau khi mẹ cô bé mất trong một tai nạn xe hơi. Chúng khiến cô bé cảm thấy được an ủi và an toàn vì mình có thể lưu giữ được hình ảnh tích cực về nơi mẹ đang ở. Hình dung của Michelle được minh hoa như sau:
“Ở đó có rất nhiều lâu đài nơi chỉ những người vĩ đại mới được sống, như mẹ mình… Mẹ mình yêu nhảy múa. Mình nghĩ bà đang nhảy trên thiên đường.”
Người trưởng thành có thể hỗ trợ trẻ em mất người thân theo một mô hình chung. Đầu tiên, họ nên nói với trẻ sự thật về cái chết, có cân nhắc tới giai đoạn phát triển và khả năng hiểu của trẻ. Có thể sử dụng những câu như: “Thông thường người ta chết khi họ đã rất rất già hoặc bệnh rất nặng, hoặc khi cơ thể bị thương quá nặng mà các bác sĩ và bệnh viện không thể giúp được nữa, và cơ thể người đó sẽ ngừng hoạt động.”
Khi đề cập với những trẻ còn quá nhỏ, việc dùng ngôn ngữ và hình ảnh cụ thể sẽ rất hữu dụng. Bên cạnh đó, nên tránh việc sử dụng lối nói trại đi quá quen thuộc vì nó có thể ngăn cản quá trình đau buồn. Nếu chúng ta bảo với bé Johnny rằng ông nội phải đi rất xa, cậu bé có thể tưởng tượng rằng ông nội sẽ trở lại hoặc hỏi tại sao ông không chào tạm biệt.
Thứ hai, chúng ta cần phải để trẻ nhận ra mọi người đang than khóc, đưa trẻ đến đám tang và lễ tưởng niệm. Nghiên cứu chỉ ra việc tham gia lễ tanggiúp trẻ chấp nhận cái chết và tưởng nhớ cha hoặc mẹ đã mất của mình.
Việc để ý đến những dấu hiệu thường thấy ở những trẻ có đau buồn cũng sẽ rất hữu ích, cụ thể như: trẻ mong muốn trông có vẻ bình thường, kể và hay kể lại câu chuyện của mình, nói về người thân yêu đã khuất ở thì hiện tại và thường lo lắng cho sức khỏe của bản thân hoặc của người khác.
Người trưởng thành có thể khuyến khích trẻ em sử dụng các nghi thức để đương đầu với đau buồn. Các em có thể cầu nguyện, thả bong bóng, hát một bài hát, trồng một bông hoa, hoặc viết một bài thơ. Trẻ em đang đau buồn có thể bộc lộ bản thân mình thông qua những quyển sách kí ức, những hộp đựng kí ức, hình ảnh và cả những email kí ức.
Cả trẻ nữ và nam đều có thể có khả năng ngôn ngữ giới hạn cho việc chia sẻ cảm xúc. Đồng thời, các em cũng chỉ có một năng lực cảm xúc giới hạn để chịu đựng nỗi đau mất mát, song các em có thể giao tiếp những cảm xúc, mong ước và nỗi sợ của mình thông qua trò chơi. Trị liệu trò chơi (play therapy) có thể bao gồm việc sử dụng trí tưởng tượng và tương tác với những đồ chơi hóa thân diễn kịch. Một chiếc điện thoại đồ chơi có thể khuyến khích một cuộc đối thoại của trẻ với người thương yêu đã khuất.
Nỗi sầu khổ và mất mát thời thơ ấu bao trùm lên hàng loạt vấn đề đời sống nhưng chúng ta có thể mang lại sức mạnh cho trẻ bằng việc sử dụng những ngôn ngữ phù hợp với lứa tuổi và cung cấp những can thiệp giúp khơi mở hành trình khám phá và trao đổi về xúc cảm trước những đau buồn.

LINK:https://theconversation.com/adults-can-help-children-cope-with-death-by-understanding-how-they-process-it-58057

Dịch: A.T – Hành Lang Tâm Lý


Read More
Làm sao đối mặt với cái chết

Đây là bài đầu tiên của series “Đương đầu với sự hữu hạn của cuộc sống”. Xuyên suốt series là những bài viết về nỗi sợ cái chết, sợ sự mất mát ở từng độ tuổi và cách để đối diện, đương đầu với cái chết không thể tránh khỏi ở mỗi người. Bài thứ 2 của series sẽ nói về cách giúp trẻ nhận thức, hiểu và thích nghi được dần với cái chết ở một người.

Tác giả
·      Lisa Iverach: Hợp tác danh dự tại khoa Tâm lý, Đại học Macquarie và Nghiên cứu sinh tại University of Sydney
·      Rachel Menzies: Ứng viên tiến sĩ Tâm lý Lâm sàng tại đại học Sydney
·      Ross Menzies: Phó giáo sư của đại học Sydney


Nhận thức được sự hữu hạn của đời sống là một phần trong sự tồn tại của con người. Với tư cách là một tác giả và là một nhà triết học hiện sinh, Irvin Yalom từng nói, chúng ta “sẽ mãi bị ám ảnh bởi việc biết rằng chúng ta sẽ luôn theo trình tự lớn lên, nở rộ - đỉnh cao, và không thể tránh khỏi - xuống dốc và chết.”
Ngày càng có nhiều nghiên cứu tìm hiểu nỗi lo lắng quá mức về những gì cái chết, và sự mơ hồ về thời điểm nó xảy ra, gây ra cho chúng ta. Một học thuyết tâm lý xã hội, được gọi là TMT “Terror management theory – Thuyết kiểm soát sự khiếp sợ”, là một cách giúp chúng ta hiểu nỗi lo lắng trên ảnh hưởng đến hành vi cùng cảm thức bản thân như thế nào.
Cơ chế phòng vệ
Theo học thuyết này, chúng ta quản lý nỗi sợ chết của mình bằng cách tạo ra cảm giác trường tồn và ý nghĩa cho cuộc sống. Chúng ta tập trung vào những thành tích cá nhân và thành tựu của những người chúng ta thương yêu; chúng ta chụp vô số hình ảnh nhằm kéo dài ký ức; chúng ta cũng có thể đến nhà thờ và tin vào cuộc sống ở kiếp sau.
Những hành vi này làm tăng giá trị của bản thân chúng ta và giúp ta có được cảm giác mạnh mẽ khi đối diện với cái chết. Tuy nhiên với một số người, những giai đoạn stress hoặc các mối đe dọa đối với sức khỏe của họ, hay của những người thân có thể dẫn tới những cơ chế đương đầu bệnh lý và kém hiệu quả.
Những người này sẽ hướng nỗi sợ chết của họ sang mối đe dọa nào nhỏ và dễ kiểm soát hơn, ví dụ như nhện hoặc vi khuẩn. Những ám sợ này nhìn chung có vẻ an toàn và nằm trong khả năng kiểm soát hơn là nỗi sợ về cái chết.
Điều này hợp lý vì khi chúng ta nhìn kỹ vào các triệu chứng của một vài rối loạn có liên quan đến lo lắng, chủ đề cái chết hiện lên khá rõ.
Khi một đứa trẻ trải nghiệm rối loạn lo âu chia cách, chúng thường gắn sự khiếp sợ mất mát một hình tượng gắn bó quan trọng trong cuộc sống - như cha mẹ hoặc thành viên trong gia đình- với những mối đe doạ hay thảm kịch gây ra bởi tai nạn giao thông, thiên tai hoặc bệnh tật hiểm nghèo.
Người có hành vi hay kiểm tra thái quá sẽ liên tục kiểm tra ổ điện, bếp lò, ổ khóa nhằm nỗ lực ngăn chặn các mối nguy hiểm hay chết chóc. Người có chứng rửa tay cưỡng chế thường có mối bận tâm với các bệnh mạn tính và nguy hiểm đến tính mạng.
Người có rối loạn hoảng loạn thường xuyên phải ghé bác sĩ vì họ sợ mình sẽ chết do đau tim bất cứ lúc nào. Trong khi đó, người có các rối loạn về triệu chứng tâm thể, kể cả những người được chẩn đoán với rối loạn hay nghi ngờ mình mang bệnh nào đó, sẽ thường xuyên đề nghị được kiểm tra sức khoẻ và chụp quét toàn thân nhằm xác định các bệnh nghiêm trọng.
Cuối cùng là các ám sợ thường được mô tả là gắn với nỗi sợ thái quá trước độ cao, nhện, rắn, hoặc máu – tất cả đều gắn kết với cái chết. Các phản ứng ám sợ khi nhìn thấy nhện, ví dụ, thường bao gồm hành động như nhảy, la hét và run rẩy. Một số nhà nghiên cứu cho rằng, các hành động trên thực ra đại diện cho các phản ứng hợp lý khi đối diện trước mối đe dọa lớn hơn, như nhìn thấy một người mang theo vũ khí.
Cái chết tiềm ẩn
Các bằng chứng cho giả thuyết TMT xuất phát từ những nghiên cứu chứng minh rằng lo lắng về cái chết có thể làm tăng các phản ứng mang tính lo âu và ám sợ.
Những nghiên cứu này dùng kĩ thuật nổi tiếng “Mortality salience induction – Dẫn dắt vào sự hạn hữu của cuộc sống” để xem xét nỗi lo âu về cái chết ở những người có rối loạn lo âu. Kĩ thuật này yêu cầu người tham gia viết lại những cảm xúc trỗi dậy khi họ nghĩ về cái chết của chính mình, đồng thời ghi lại chi tiết hình dung của họ những gì sẽ xảy ra khi họ hấp hối và qua đời.
Ám sợ nhện khi đi kèm với kĩ thuật trên, khi so với ám sợ không đi kèm việc nhắc nhớ về cái chết, sẽ tạo phản ứng mạnh hơn khi nhìn thấy nhện ví dụ như tránh né việc nhìn vào hình ảnh có liên quan tới nhện. Người rửa tay thái quá cũng sẽ dành nhiều thời gian hơn để rửa tay và dùng nhiều khăn giấy hơn khi bị kích thích với cái chết.
Tương tự như vậy, người có ám sợ xã hội mất nhiều thời gian hơn để tham gia tương tác với bên ngoài. Sau khi được nhắc về cái chết, họ sẽ đánh giá những khuôn mặt hạnh phúc cũng như giận dữ mang tính đe dọa nhiều hơn – vì chúng biểu thị sự đánh giá- thay vì chỉ là những khuôn mặt trung tính.
Vậy nỗi sợ chết có bình thường hay không?
Khi hiểu được rằng chúng ta rồi cũng sẽ chết ở một thời điểm nào đó, lo âu về cái chết sẽ chỉ đơn giản là một trải nghiệm thường gặp của cuộc đời con người. Với nhiều người trong số chúng ta, nghĩ về cái chết có thể khơi gợi các nỗi sợ chia ly, mất mát, đau đớn, cam chịu và lo âu khi phải bỏ người chúng ta yêu thương lại phía sau.
Theo thuyết TMT, thật ra nỗi sợ này có sức mạnh để khích lệ ta sống một cuộc đời trọn vẹn. Nó khuyến khích ta trân trọng những người ta yêu thương, tạo nên những kỉ niệm lâu dài, theo đuổi niềm hi vọng và những ước mơ, đồng thời khơi phá những tiềm năng nơi bản thân.
Nỗi sợ chết chỉ trở nên bất thường khi nó là nền tảng tạo nên những suy nghĩ, hành vi bệnh lý ảnh hưởng tới đời sống thường ngày. Nhiều người ám ảnh thái quá việc rửa tay hay kiểm tra sẽ dành phần lớn thời gian trong ngày để thực hiện những hành vi mang tính nghi thức được tạo ra để làm giảm sự đe doạ từ bụi bẩn, vi khuẩn, lửa, đột nhập hoặc bất kỳ mối nguy nào có thể làm hại họ cùng người thân.
Tương tự, người với các rối loạn ám sợ có thể làm mọi cách để tránh né những gì họ sợ và phản ứng thái quá, đau đớn khi phải đối diện với nó. Khi suy nghĩ và hành vi dẫn đến khiếm khuyết chức năng, lo âu không còn được nhìn nhận là bình thường nữa.
Điều trị cho các rối loạn khác nhau, ví như liệu pháp nhận thức hành vi, cần kết hợp với nhiều phương pháp mới để đề cập trực tiếp tới lo âu về cái chết. Nếu thiếu đi những hướng tiếp cận mới, hình ảnh về cái chết sẽ mãi ám ảnh họ trong suốt cuộc đời, cho tới tận đến khi mọi chuyện đã quá muộn màng.
Link: https://theconversation.com/fear-of-death-underlies-most-of-our-phobias-57057
Dịch A.T-Hành Lang Tâm Lý







Read More